Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 10 / Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão- Văn 10

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão- Văn 10

Đề bài: Em hãy bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Dường như những âm vang của thời đại Đông A như đã gắn liền với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm, và trong ba lần đánh bại Nguyên – Mông dường như cũng đã in dấu trên nhiều trang viết của các nhà thơ đương thời. Có thể nói Phạm Ngũ Lão – danh tướng nhà Trần “đánh đâu thắng đó” cũng như đã ghi lại những xúc cảm của mình qua tác phẩm “Thuật Hoài” – tác phẩm thể hiện rất đẹp hình ảnh và những khí thế của người trai thời đại, cũng cũng là những tư thế của dân tộc trong những ngày hào hùng ấy.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Bài thơ chữ Hán thật đặc sắc, và như chỉ vẻn vẹn 28 chữ đã có một dung lượng thông điệp thẩm mỹ lớn. Dường như cũng đã thể hiện khí phách nhà thơ – dũng tướng. Thi ngôn chí chính là một nội dung tư tưởng của đề tào Thuật hoài, Vịnh hoài, cảm hoài… Nhưng dường như sẽ không thể có cái ung dung hào sảng nếu như ta tách bạch bài thơ ra khỏi không khí thời đại bừng bừng “sát Thát”. Dường như bài thơ đã không tách rời khỏi những quỹ đạo tư tưởng Nho giáo trong mẫu hình người anh hùng cá nhân phong kiến thế nhưng trước hết nó vẫn là nỗi lòng của người “một thời tuy đã nên tướng giỏi – và đó chính là chí khí anh hùng vẫn khát khao”. Giấc mộng lập công dương danh luôn luôn là điều ám ảnh những kẻ sĩ và những đại trượng phu thời phong kiến. Và có thể nói rằng để đi liền với các tước phong công, hầu, khanh, tướng. Nhưng dường như trong bài thơ này, con người như đã được phác bằng những câu thơ có sức khái quát cao độ tinh thần dân tộc tự cường.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Có thể nhận thấy chính câu khai đề của bài thơ đã tạo một tư thế rất đẹp của con người. Bản dịch thành từ vung giáo, múa giáo dường như đều không ổn vì lập tức nó sẽ phá vỡ đi đối trọng con người – không gian. Đó chính là một bên là giang sơn – sông núi quê hương rộng lớn hay đó là một bên là con người hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông. Dường như cái thế “hoành” của ngọn giáo khiến cho tầm vóc con người như vươn lên và như đã ngang tầm sông núi. Dễ dàng nhận thấy dường như chính những hình ảnh người lính vệ quốc toát lên vẻ bình thản hiên ngang. Không những thế, ta có thể thấy trong những mối tương quan con người – thời gian còn làm nổi bật ấn tượng về sự bền bỉ , uy dũng của người trai thời đại. Bởi vì lẽ đó mà con người không chỉ đứng đó trong thoáng chốc mà đã trải qua “mấy thu” rồi. Câu thơ dường như cũng đã xác lập một tư thế con người lồng lộng giữa đất trời, ngang tầm vũ trụ. Và không những thế mà dường như cả đoàn quân cùng chung tư thế ấy hiên ngang đó.

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu

Chỉ với câu thơ trên như đã là hình ảnh, câu dưới lại chính là thần thái con người. Ta có thể thấy chính những người chiến sĩ cầm ngang ngọn giáo kia với tam quân đã tạo thành một tường thành vững chắc, và cũng như im phăng phắc mà khí thế “xung thiên”. Câu thơ như đã còn gợi về một ý thơ của Quảng Nghiêm thiền sư năm nào “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”. Cùng với một tư thế sẵn sàng xung trận đã hình thành tứ thơ thật đẹp “tỳ hổ khí thôn ngưu”. Và tuy rằng những cách diễn ý chưa thoát khỏi lối ước lệ tượng trưng tưởng như rất đỗi quen thuộc của thơ xưa nhưng để hiểu cặn kẽ và như cũng không phải là điều đơn giản. Và theo những cảm quan thẩm mỹ cổ điển, câu thơ cũng như đã gợi lên khí phách đoàn quân quyết chiến làm át cả sao Ngưu – đó là những vì tinh tú sáng chói trên trời. Nhưng cách hiểu “ba quân như hổ mạnh nuốt trôi trâu” cũng như đã đem đến cảm nhận cụ thể hơn đó chính là về sức mạnh của quân đội như rất còn non trẻ đương đầu với đội quân Nguyên – Mông hùng mạnh và rất thiện chiến, dường như lại có những hàm ý ngợi ca tự hào mạnh mẽ hơn. ởi lẽ tỳ hổ là cách so sánh mang đậm chất võ của người thống lĩnh ba quân. Dường trong sự liên tưởng ấy, ta có thể thấy hổ và trâu dường như hoàn toàn lại như không làm mất đi giá trị thẩm mỹ của câu thơ mà làm rõ hơn cho dũng khí của quân đội nhà Trần.

binh giang bai tho to long

Đặc biệt hơn là hai câu thơ đầu mới chỉ là nền để nhà thơ bộc bạch lòng mình ra được

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

Có thể nhận thấy đây mới là điều canh cánh bên lòng của người dũng tướng, dường như đã gắn với bổn phận của kẻ làm trai thời phong kiến . Tự bao đời nay, cái chuyện nợ công danh cũng đã từng là niềm ám ảnh khôn nguôi đối với những người làm trai trong thời phong kiến. Và phải chăng, là một người anh hùng như Phạm Ngũ Lão thì dường như cũng không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn “công hầu kha nh tướng” ấy? Và nếu như ta giả sử có như vậy cũng là lẽ thường tình, nhất là trong thời đại khi mà giá trị con người được tạo nên từ những chiến công – thời thế tạo anh hùng. Câu thơ cũng như đã bộc lộ niềm khao khát lớn, một điều băn khoăn và chưa trả được với đời của người trai làng Phù Ủng năm nào. Chính với tất cả nỗi niềm của ông được thổ lộ trong sự đối sánh hay so sánh đối với tấm gương Vũ Hầu Gia Cát Lượng thuở xưa. Và có thể nhận ra bậc mưu thần, danh sĩ nổi tiếng thời Tam Quốc, người mà đã không ngại ngần xả thân vì cơ nghiệp nhà Thục, vì chúa Lưu Bị, nhắm mắt mà cũng chưa yên công cuộc “ủng Lưu phản Tào”. Tất cả dường như cũng đã được rõ,  những tâm niệm của Phạm Ngũ Lão nào khác nguời xưa mà trong khi ông mong muốn làm nên công nghiệp phò tá cho vua, thực hiện những lý tưởng trí quân trạch dân cao cả của bề tôi trung thành rất tận tuỵ. Có thể thấy chính cái nỗi thẹn của người anh hùng toả sáng một nhân cách lớn. Băn khoăn ấy dường như cũng đã không dành riêng cho bản thân mà toàn tâm toàn ý hướng về nghiệp lớn muôn đời, vì sự bình yên của sơn hà xã tắc.

Bài thơ được ví như là sự phản chiếu một thời đại hào hùng, khi lý tưởng trung quân ái quốc cũng hoà nhịp trọn vẹn trong tình cảm, tâm hồn nhà thơ Phạm Ngũ Lao. Có thể nhận thấy chính thời đại “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước ra sức”.Và dường như chính tâm nguyện của Phạm tướng quân lúc này cũng như đã phản chiếu tâm tư của bao người trai thời Trần đó là việc đã ý thức rõ giá trị bản thân, hơn nữa lại nhận rõ sự gắn bó cá nhân với cộng đồng – dân tộc – đất nước. Những xúc cảm hào hùng toả sáng trong hình tượng thơ, dường như cũng đã đem đến cho người đọc cái nhìn trọn vẹn về con người thời đại Đông A.