Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 12 / Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến”- Văn 12

Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến”- Văn 12

Đề bài: Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng.

“Tây Tiến”là một trong những sác tác độc đáo và hay nhất của nhà thơ Quang Dũng. Tây Tiến như chính là minh chứng cho tình yêu, sự gắn bó của nhà thơ đối với đoàn quân Tây Tiến. Và điều đặc biệt hơn nữa là bài thơ mang được cảm hứng  lãng mạn cũng như tinh thần bi tráng thu hút được người đọc.

Có thể hiểu cảm hứng lãng mạn trong văn học chính là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, như đã hướng về lí tưởng. Nó dường như cũng đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, và nó còn rất phi thường độc đáo, dường như cũng đã vượt lên những cái tầm thường, và thật làquen thuộc của đời sống hàng ngày, nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng. Cảm hứng lãng mạn dường như cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, đối lập, ngôn ngữ thì thật giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Ta có thể thấy cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 dường như chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới Có thể thấy chính vẻ đẹp con người mới, như cũng đãca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Cảm hứng lãng mạn lúc này dường như cũng đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác, nó cũng như đã nâng đỡ con người có thể vượt lên mọi thử thách trong máu lửa của chiến tranh gian khổ để hướng đến ngày chiến thắng.

Có thể cảm nhận được cảm hứng lãng mạn thể hiện đậm nét trước hết ở cái tôi của Quang Dũng. Nó dường như đã trào ra từ đầu bài thơ đầy ắp và mãnh liệt một nỗi nhớ – nhớ chơi vơi, một nỗi nhớ rất lạ, nỗi nhớ lúc này hình như nhẹ tênh mà nặng trĩu vô cùng, và dường như để rồi sau đó tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Ta có thể thấy được ở cái nỗi nhớ trải dài theo dòng sông Mã trùng điệp theo hình non thế núi. Nỗi nhớ dường như cứ đến hụt hẫng, mà lại như trống vắng trong lòng người. Tây Tiến chính là một đoàn quân, nhưng có thể thấy những tiếng gọi “ơi” lại trìu mến như tiếng gọi với một người thân. Ba vần “ơi” như da diết vang vọng vào vách núi. Đó là nỗi nhớ của tác giả với Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ da diết, lan tỏa thấm đượm trong từng câu thơ, hình ảnh thơ. Cái tôi Quang Dũng có mặt khắp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình thơ mộng đến đêm hội đuốc hoa đầy màu sắc xứ lạ phương xa, từ nỗi nhớ bản làng “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thật là hào hoa và lãng mạn biết bao nhiêu.

Ngoài ra chính cảm hứng lãng mạn trong thi phẩm đặc sắc “Tây Tiến” như đã còn thể hiện đậm nét trong bút pháp lãng mạn. Và đặc biệt là những thủ pháp cường điệu, đối lập được sử dụng rộng rãi, như cũng đã sáng tạo đã tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng, hùng vĩ và cái tuyệt mĩ của con người và thiên nhiên.

Ta như nhận thấy được thiên nhiên miền Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng được cảm nhận với vẻ đẹp đa dạng, vừa độc đáo nhưng cũng vừa hùng vĩ dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình nó lại như vừa hoang sơ mà ấm áp, làm say lòng người. Có thể thấy rằng chính những trí tưởng tượng bay bổng khiến thi nhân hình dung ra một “đêm hơi’. Và trong đem hơi đó dường như không chỉ có sương rừng ướt lạnh mà còn có cái lãng đãng, hay sự huyền ảo, cảm được cái oai linh của thần núi, thấy được ra là “hồn lau nẻo bến bờ” và cũng như đã nghe thấu được cả tiếng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Nhà thơ Quang Dũng như đã nhớ những cuộc hành quân gian khổ qua những chặng đường núi non hiểm trở. Sẽ không bao giờ quên được  những thử thách ghê gớm với các chiến sĩ Tây Tiến vốn chính là những chàng thanh niên đất Hà thành lần đầu tiên đến Miền Tây xa lạ này. Còn xa lạ ở chỗ các tên bản, tên mường như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… cũng như đã được nhắc đến không chỉ gợi bao nỗi nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang sơ. Nó cũng như vừa gợi ra sự gian nan, bí ẩn hay chứa đựng cả  những sự thách thức, vừa như lại gợi được sự tò mò và không kém phần háo hức của những chàng trai thành thị. Tất cả, tất cả những khung cảnh thiên nhiên đều được khắc họa với ấn tượng mạnh nhất. Ta như thấy được cảnh đoàn binh hành quân trong sương mù ẩm ướt dày đặc đến mức che lấp cả đoàn quân Tây Tiến kia. Có thể thấy rằng ngay trong cảnh khắc nghiệt, thì dường như những người chiến sĩ Tây Tiến dường như vẫn có thể phát hiện ra vẻ đẹp của “hoa về trong đêm hơi”. Đó chính là những bông hoa núi với hương thơm ngan ngát như cũng đã hiện ra dần dần mờ ảo qua đêm sương. Và có thể chính việc qua cái nhìn say mê lãng mạn, khiến cái mệt mỏi của đoàn quân dường như tan biến. Biết bao nhiêu là đèo cao, dốc thẳm dựng thành phía trước mà người chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Thật là ghê sợ giữa cảnh thiên nhiên Tây Bắc, đó chính là dốc lên thì khúc khuỷu, gập ghềnh, ngoằn ngoèo mà còn dốc xuống thì thăm thẳm, dựng đứng. Câu thơ rất giàu chất tạo hình như họa lại như vẽ lại một chặng đường hành quân hiểm trở. Dốc núi ngoằn ngoèo là thế có cả những dốc vút lên ngàn thước, rồi lại đổ xuống thẳng đứng ngàn thước. Câu thơ dường như cũng thật cũng gập ghềnh với nhiều thanh trắc và cách ngắt nhịp 4/3 dường như cũng đã bẻ gập câu thơ tạo thế núi hoang dại, khủng khiếp. Hình ảnh độc đáo và lãng mạn đó là mũi súng trên vai của của người chiến binh được nhân hóa tạo thành hình ảnh “súng ngửi trời” vừa diễn tả được độ cao ngất, hoang sơ như lại rất đỗi lạ lẫm vừa hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn người lính. Đó có chăng chính là chất tinh nghịch, hồn nhiên rất lính của người chiến binh Tây Tiến.

Có thể thấy chính cảnh đoàn quân đi trong mưa rơi“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thật dữ dội mà lại thật nên thơ. Thiên nhiên mưa giăng mịt mù như đã khiến những ngôi nhà sàn Pha Luông ở lưng chừng núi thấp thoáng trong mưa như bồng bềnh trên biển khơi vậy. Thêm nữa là câu thơ toàn thanh bằng như chứa đựng một sự bồng bềnh và nhẹ nhàng hơn bao giờ hết.

Dường như những sự gian khổ với các chiến sĩ còn là “thác gầm thét” dữ dội hòa với tiếng hú man dại, ghê gớm của thú rừng. Chi tiết “Cọp trêu người” như mang theo cái oai linh, và đó chính là những bí ẩn của rừng đại ngàn. Có thể nói chính vẻ hoang dại ấy không chỉ mở ra ở không gian cụ thể mà còn được khám phá ở thời gian “đêm đêm”, “chiều chiều”. Tác giả Quang Dũng dường như đã miêu tả thời gian, nhưng lại gợi được không gian núi rừng, lúc nào cũng âm u, hoang vu như trong bóng tối. Nó luôn luôn chính là một mối đe dọa sẵn sàng nuốt chửng con người. Đặc biệt hơn thế nữa là ở những người lính họ toàn là những người lính trẻ thủ đô mới lần đầu rời thành phố đến rừng đại ngàn hẻo lánh và đầy nguy hiểm này.

Cam hung lang man va tinh than bi trang trong tay tien

Dường như đối lập với sự khắc nghiệt là vẻ đẹp tuyệt mĩ của thiên nhiên Tây Bắc. Chính những vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc như được kết bằng hoa rừng như câu “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”; “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Đặc biệt đoạn thơ:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Tất cả dường  như đã gợi nhớ ra cảnh Châu Mộc trong một buổi chiều sương phủ trên dòng nước mênh mông, hoang dại thật huyền ảo. Cảnh vật lúc này có lẽ như đã nhòe đi, như mềm mại và có hồn hơn. Chữ  “ấy” và ở câu trên và chữ “thấy” ở câu dưới cũng như khéo léo  bắt thành một vần lưng giàu âm điệu. Và chính những hình ảnh hoa lau nở trắng sáng, lá lau lay động xào xạc trong gió vốn là những thi liệu cổ điển quen thuộc nhưng khi đi vào thơ của Quang Dũng như mang hồn lưu luyến của cảnh chia li. Và có thể thấy nổi bật trên dòng nước là dáng uyển chuyển thanh tú trên thuyền độc mộc của các cô gái Tây Bắc. Ta như có thể thấy và cảm nhận được chính những hình ảnh “hoa đong đưa” vừa là hình ảnh tả thực nhất, và những bông hoa khẽ lay động đong đưa làm nét duyên dáng

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Và những cô gái miền sơn cước xinh đẹp làm nhiệm vụ nuôi quân không quản ngại vất vả, hiểm nguy cũng như đã để lại trong lòng người lính trẻ một nỗi nhớ không nguôi. Dường như chính nỗi nhớ cất lên thành lời tha thiết “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói”. Và hai chữ “mùa em”  như được sử dụng tài tình vì đã kết tinh cả hương nếp ngày mùa lẫn tình em ấm áp. Dường như bàng bản Mai Châu, bóng hình sơn nữ, hương nếp xôi quyện lại trong hình ảnh thơ thành nỗi nhớ ngọt ngào, bâng khuâng, lãng mạn trong tâm hồn của người lính trẻ.

Và đó là những đêm liên hoan văn nghệ ở doanh trại bừng lên sôi nổi, vui tươi trong ánh lửa đuốc lung linh, trong âm thanh của tiếng kèn réo rắt, trong tâm hồn say sưa đắm đuối của người lính trẻ nơi Hà thành xa xôi.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Ngọn đuốc dường như cũng đã thắp sáng đêm liên hoan văn nghệ truyền thống đã thành “hội đuốc hoa” khiến khung cảnh tuy thiếu thốn mà rực rỡ lung linh bao ước mơ, hạnh phúc. Và bỗng nhiên ta bắt gặp ở hai chữ “kìa em” diễn tả cái nhìn ngỡ ngàng đến say mê, rạo rực của người lính trẻ. Có thể thấy những hình ảnh các cô gái Tây Bắc bất ngờ hiện ra lộng lẫy trong bộ áo xiêm rực rỡ dưới ánh đuốc lung linh nhưng vẫn giữ nguyên vẻ e ấp, và như cũng rất tình tứ trong điệu múa lạ như múa sạp, múa xòe… trong tiếng khèn mang linh hồn của núi rừng càng trở nên lôi cuốn. Lúc này ta như đã thấy tâm hồn các chiến sĩ mộng mơ, lãng mạn. Nét đẹp những đêm liên hoan văn nghệ trên biên cương xa xôi này, cũng như đã như đã “xây hồn thơ” cho thấy tâm hồn trong sáng, giàu mộng mơ, giàu lí tưởng trong kí ức của chiến sĩ trẻ.

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm”

Và ta như thấy được cả đoàn binh “Tây Tiến” dường như không mọc tóc ví sốt rét rừng khắc nghiệt, hoặc vì chủ trương cạo trọc tóc để tiện cho việc đánh giáp lá cà với địch. Quang Dũng thực tả và không né tránh hiện thực của cuộc kháng chiến gian khổ này. Thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng thường nói về căn bệnh sốt rét rừng ghê sợ. Đã làm cho “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” và cũng là màu da xanh xao do sốt rét rừng, nhưng qua nét bút lãng mạn và cảm hứng anh hùng của Quang Dũng thì màu xanh ấy lại mang vẻ tươi xanh đầy sức sống của núi rừng. Đặc biệt hơn là hình ảnh “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” như đã gợi được những ánh mắt quyết liệt, hướng đến quân thù, như đã khao khát giết giặc lập công cho tổ quốc. Nhưng dường như bên ngoài dáng vẻ oai phong đó là tâm hồn trẻ trung, trong sáng, giàu mộng mơ. Và để rồi “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” và với lối diễn đạt này có vẻ cầu kì nhưng phù hợp với tâm hồn những người lính trẻ thu đô xa người yêu đi kháng chiến. Dường như người kính trẻ như nhớ về các cô gái hà thành, bóng dáng những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều thơ mộng lại không hề phai nhạt trong tâm hồn những người lính ngay cả trong khói lửa chiến tranh.

Bi tráng trong tác phẩm văn học dường như lạiđược thể hiện ở việc miêu tả hiện thực, không né tránh cái bi, tức cái gian khổ, đau thương. Chính là cái bi nhưng không phải là bi lụy mà đó chính là bi tráng, hào hùng. Cũng là cái chết nhưng không bi lụy mà là cái chết hào hùng lẫm liệt, oai phong cái chết đi vào cõi bất tử. Cái bi thường được biểu hiện ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.

Có thể nhận thấy chính cái tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến dường như cũng đã được thể hiện ở chỗ lời thơ không né tránh cái bi, thường đề cập đến cái chết. Và nhưng đó chắc chắn cũng không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, mãnh liệt, cái chết của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử.

Và chính trên nền thiên nhiên Tây Bắc dữ dội và huyền ảo, nhà thơ tô đậm hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hào hùng và lại rất đỗi hào hoa bằng bút pháp lãng mạn, nhưng không thoát li hiện thực và cảm hứng bi tráng. Bài thơ “Tây Tiến” là bài thơ viết về chiến tranh, nhưng Quang Dũng lại không hề nói đến, không hề đả động đến trận đánh, tiếng súng. Nhưng dường như người đọc vẫn hình dung được sự khốc liệt của chiến tranh. Bởi chính bài thơ viết nhiều về sự hi sinh của người lính. Nhưng có lẽ chính bằng ngòi bút tài hoa lãng mạn và cảm hứng bi tráng, Quang Dũng đã miêu tả điều đó một cách thấm thía, xúc động, hào hùng. Cái chết, sự hi sinh bao giờ cũng đã như gợi cảm xúc đau thương. Ta có thể thấy được hình ảnh những nấm mồ “rải rác biên cương mồ viễn xứ” càng nhân lên cảm xúc bi thương đó, nhưng có thể thấy chính cách Quang Dũng dùng từ Hán Việt trang trọng đã khiến cái bi thương lạnh lẽo mờ đi. Hơn nữa câu thơ tiếp theo:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Cũng như phần nào khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ một thời không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết. Đặc biệt sẵn sàng dâng hiến cả sự sống, cả tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ dường như cũng đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, đó chính là sự yêu lí tưởng, dâng hiến cả đời xanh, và cuộc đời trai trẻ đầy hi vọng của mình cho tổ quốc. Dường như đây không phải chỉ là cách nói của thơ ca không thôi mà đây thực sự đây là dũng khí tinh thần và hành động của biết bao thế hệ trong những năm kháng chiến. Và cũng chính với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng như thế thì cái chết có nghĩa lí gì với họ.

Ta như đã biết ở các tráng sĩ xưa ở chốn sa trường từng lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh thì ở đây các chiến sĩ Tây Tiến thì chính với chiếc chiếu đơn sơ của đồng bào tặng hay chỉ bằng tấm áo đẫm máu và mồ hôi của các anh cũng tạc nên sự hi sinh bất tử. Dường như chính sự kết hợp một từ Hán Việt và một từ thuần Việt: “áo bào” khiến tấm áo liệm thân của liệt sĩ trở nên trang trọng. Sự hi sinh của các anh là “về đất”, về đất hay chính là về lòng đất mẹ thân yêu. Ta như cảm thấy có một sự hi sinh thầm lặng, thanh thản như một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong cái giây phút vĩnh biệt đồng đội vang lên không phải bằng lời ngợi ca hay những giọt nước mắt, mà dường như trong tiếng gầm của dòng Sông Mã như một “khúc độc hành” bi tráng. Dòng sông kia như đã được nhân hóa như có linh hồn, có tâm trạng, cất lên tiếng khóc xót xa, thương tiếc, uất hận căm thù trong âm hưởng dữ dội, hào hùng của Sông Mã. Có thể nói chính sự hi sinh của người lính Tây Tiến thấm đẫm tinh thần bi tráng và đậm đà chất sử thi. Và cũng từ đây các anh đã hòa quyện vào cỏ cây, sông núi, và đã trở thành hồn thiêng của đất nước. Bài thơ 3 lần nói đến cái chết, thì cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chết trang trọng và hiên ngang này

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Có thể nhận thất chất bi tráng làm nên sắc diện bài thơ có mặt trong cả tác phẩm, nhưng nổi rõ và in dấu đậm nét nhất chính là đoạn Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến. Và cả những cặp hình ảnh đối lập giữa ngoại hình tiều tụy với phong thái như “dữ oai hùm”; giữa “mắt trừng” và cả “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”;

Và người đọc như nhận thấy chính cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng bao trùm bài thơ làm nên vẻ đẹp riêng của Tây Tiến. Chính hai yếu tố này đã làm cho bài thơ có sắc thái riêng không bị hòa lẫn vào các bài thơ khác cùng thời khi viết chung về chủ đề người lính.