Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 10 / Em hãy phân tích câu “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” của Nguyễn Du- Văn 10

Em hãy phân tích câu “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” của Nguyễn Du- Văn 10

Đề bài: Em hãy phân tích câu “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” của đại thi hào Nguyễn Du

 Có thể thấy rằng người phụ nữ trong xã hội xưa luôn luôn là những người không được trọng dụng. Họ luôn luôn bị đối xủa bất công mặc dù có tài sắc đó nhưng lại chịu những số phận hẩm hiu. Chính vì vậy mà câu thơ của Nguyễn Du như phần nào cũng đã lột tả được điều này

Đau đớn thay phận đàn ,

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Qua từ “Phận” là thân phận hay cũng có thể hiểu là số phận. Đó chính là một quan niệm cũ số phận của con người được sung sướng đến tốt cùng hay đau khổ là do một thế lực bí ẩn, huyền bí thiêng liêng định đoạt. Có lẽ rằng chính với câu thơ thứ nhất là lời cảm thán cho số phận đàn đau khổ.

Từ ngữ “Bạc mệnh” được sử dụng rất đắt để dùng chỉ số phận, số mệnh tiền định mỏng manh biết bao nhiêu là đen tối. Và dường như chính những người phụ nữ đã phải trải qua nhiều đau thương bất hạnh. “Bạc mệnh” dường như không chỉ riêng ai mà là “lời chung”, mà đó chính là số phận đáng thương của hầu hết mọi người phụ nữ trong xã hội xưa cũ ngày trước.

Và chính với hai câu thơ trên chính là tiếng khóc của Thuý Kiều khi nàng Kiều đang đứng trước nấm mồ của nàng Đạm Tiên trong một buổi chiều thanh minh. Đó có thể nói là tiếng khóc của nàng cho Đạm Tiên và lớn hơn hết đó chính là cho mọi người phụ nữ tài hoa bạc mệnh ngày xưa. Tiếp sau nữ chính là nàng Kiều như cũng đã tự khóc cho đời mình mai sau đó. Có lẽ rằng với ý thơ mang tính chất khái quát rất cao, ngoài ra ý thơ còn như đã biểu hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du qua Truyện Kiều.

Dau don thay phan dan ba

Có thể nói rằng hai câu thơ trên đã nói lên bi kịch về những kiếp người về thân phận của người phụ nữ ngày xưa luôn là rất đau khổ, bạc mệnh. Nguyễn Du dường như cũng đã sống trong một thời đại đen tối nhất, đó không đâu khác chính là lúc chế độ phong kiến suy tàn. Chính chế độ này, xã hội đầy rẫy thối nát, bất công và dã man. “Truyện Kiều” có lẽ là một trong số những tác phẩm hiếm hoi mà đã phản ánh một cách sống động cũng như là một cách chân thực cái hiện thực đen tối ấy của xã hội phong kiến:

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Có lẽ rằng chính “Phận đàn bà” trong xã hội ấy dường như là “đau đớn”, và cũng dường như là “bạc mệnh”. Những thân phận người đàn bà như cũng rất tủi nhục không kể xiết. Có thể thấy rằng chính lễ giáo phong kiến khe khắt, cổ hủ nặng nề còn tồn đọng đó chính là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” hay là “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Ta cũng như đã như thấy được chính cái đạo “tam tòng” như sợi dây oan nghiệt thít chặt vào cổ những người phụ nữ, những người đàn bà đó là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Sinh ra là phụ nữ thì phải chịu thân phận bếp núc, những người phụ nữ không được học hành. Họ dường như không có chút quyền hành gì ngoài xã hội. Người xưa có câu nam nữ “thụ thụ bất thân”. Nhất là những người con gái và nhan sắc đẹp dù có mặn nồng thì cũng như chỉ để “mua vui” cho bọn vua chúa, quan lại, kẻ quyền quý mà thô. Dường như chính hai chữ “bạc mệnh” được toát lên trong lời thơ đã cực tả nỗi “đau đớn”, tủi nhục của “khách má hồng”.

Nguyễn Du dường như cũng đã phản ánh một sự thật đau lòng trong xã hội phong kiến suy tàn và mục ruỗng hết. Cả cảnh nạn mất mùa, dịch bệnh, tệ áp bức bóc lột nặng nề của vua quan,hay còn những điều đánh sợ của chiến tranh và cả những cảnh loạn lạc triền miên đã dìm người dân lành vô tội trong máu, nước mắt và đói rét. Ta như thấy được những người phụ nữ và trẻ em là lớp người đau thương nhất: góa bụa, côi cút… Có lẽ rằng có người phải ăn xin “chết lăn rãnh đến nơi, thịt da béo cầy sói”  và đó có thể coi là những điều trong thấy. Và có những giai nhân “nổi danh tài sắc một thì” nhưng lại chịu cảnh “bạc mệnh” đó là phải chịu cảnh “Sống làm vợ khắp người ta/  Hại thay thác xuống làm ma không chồng” nói về nhân vật Đạm Tiên. Và đó còn là những thiếu nữ hiếu thảo, tài sắc vẹn toàn nhưng dường như họ lại phải trải qua số kiếp “đoạn trường” nên phải nếm mùi cay đắng nhục nhã “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” như nhân vật Thúy Kiều

Nguyễn Du dường như cũng đã bằng sự trải nghiệm của đời mình, đã từng mười năm trời lưu lạc, và ông không thuốc men lúc ốm đau. Chịu cảnh vợ con chia lìa, anh em tan tác (Anh em tan tác nhà không có – Ngày tháng xoay vần tóc bạc rồi – Thơ chữ Hán), cũng chính vì vậy nên trong ông đã có sự đồng cảm sâu sắc, ông như cũng đã thật cảm thương vô hạn cho bao nỗi đau đớn của người phụ nữ bạc mệnh. Nguyễn Du đã lên án đanh thép tố cáo những thế lực hắc ám, bạo tàn đó chính là bọn quan lại, bọn lưu manh có cả lũ buôn thịt bán người, đồng tiền mà như lại hôi tanh và bạo lực…tất cả chúng dường như cũng đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của con người, của người phụ nữ. Tác phẩm “Truyện Kiều” còn chính là tiếng kêu thương thống thiết như tiếng khóc ai oán, não nùng. Ta có thể thấy được tiếng kêu thương ấy, nhà thơ ấy, nhà thơ dường như cũng đã gửi vào thân phận một người đàn bà mềm yếu “Những oan khổ lưu ly – Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!”.

Đau đớn thay phận đàn bà,

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Qủa đúng như Tố Hữu đã nói “còn đọng nỗi đau nhân tình”, “Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều!…”. Nó như đã chất chứa chan tinh thần nhân đạo cao đẹp.

Có lẽ rằng chính câu thơ của Nguyễn Du cho đến nay vẫn còn làm xúc động lòng người. Và có thể khẳng điịnh rằng chính cách mạng đã xác nhận quyền nam nữ bình đẳng. Ngày nay thì những người phụ nữ đã có vai trò rộng lớn trong xã hội. Đảm đang việc nước hơn nữa họ lại còn đảm đang việc nhà, người phu nữ đã và đang phát huy tài năng cũng như đức hạnh trong sản xuất, học tập và chiến đầu:

Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử,

Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ

(Huy Cận)

Và chính với hai câu thơ của Nguyễn Du mặc dù không còn ý nghĩa phổ biến nữa, nhưng có thể nói rằng trong xã hội hiện nay vẫn còn không ít bất công, và không ít những tàn dư của tư tưởng phong kiến. Tất cả những bất công và tàn dư đó đã và đang làm cho người phụ nữ bị thiệt thòi, đau khổ. Vì thế cuộc đấu tranh để thực sự giải phóng phụ nữ phải được tiếp tục.

Với việc thông qua hai câu thơ:

Đau đớn thay phận đàn bà,

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Ta cũng như đã nhận thấy trái tim yêu thương mênh mông của thiên tài Nguyễn Du, ta dường như cũng đã cảm nhận sâu sắc giá trị nhân bản tuyệt vời của Truyện Kiều. Phải nói rằng thêm một lần nữa trong “Văn Chiêu hồn”, Nguyễn Du lại thống thiết kêu lên:

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu!

Có thể khẳng định rằng hơn bất cứ nghệ sĩ nào, Nguyễn Du dường như cũng đã dành cho người phụ nữ những tình cảm thắm thiết, cũng như cảm động nhất. Tác giả Nguyễn Du mãi mãi bất tử về tấm lòng nhân đạo mênh mông…