Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 10 / Phân tích bài thơ “Độc tiểu Thanh Ký” của Nguyễn Du- Văn 10

Phân tích bài thơ “Độc tiểu Thanh Ký” của Nguyễn Du- Văn 10

Đề bài: Phân tích bài thơ “Độc tiểu Thanh Ký” của Nguyễn Du

Có thể thấy rằng thơ văn Nguyễn Du tựa như một kim tự tháp sừng sững giữa đất trời mênh mông. Ba mặt của kim tự tháp ấy và dường như mỗi mặt đều mang một vẻ đẹp kỳ lạ. Và mặt chính diện óng ánh sắc màu  đó chính là“Truyện Kiều” với “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Và mặt trái cấu trúc bằng một thứ vật liệu dường như người dân dã với “Thác lời trai phường Nón”, với “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”. Mặt phải của ngôi tháp chính là những lớp men ngọc, những khối đá hoa cương dường như đã được tạo đã được khắc bằng “Thanh Hiên thi tập”, “Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Nhân dân ta dường như rất lấy làm tự hào về thi hào dân tộc Nguyễn Du và đặc biệt là một trong những tác phẩm độc đáo nữa đó chính là “Độc Tiểu Thanh ký”.

Tiểu Thanh được biết đến là một cô gái tài sắc và không may cho nàng lấy phải thương gia họ Phùng và chịu cảnh làm lẽ. Và vợ cả biết được đã đẩy nàng Tiểu Thanh ra một ngôi nhà trên núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Nàng Tiểu Thanh có một tập thơ như đã nói lên cuộc đời khát khao hạnh phúc và dường như đầy nước mắt của mình. Tiểu Thanh đã rất đau khổ mà chết giữa lúc tuổi đời vừa mười tám xuân xanh. Nàng thật đã chết rồi mà tập thơ của nàng vẫn bị vợ cả đem đốt, và như rất may còn sót lại một số trang, còn một số bài và được người đời chép lại gọi là phần dư cào. Thi hào Nguyễn Du đã biết được chuyện đó và trong lúc đi thăm viếng mộ của nàng Tiểu Thanh thì đã viết lên bài thơ đó.

 “Tây hồ hoa uyển tận thành khư,

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

“Hoa uyển” và “khư” được biết đến chínhlà hai khái niệm chuyển hóa đối lập. Cảnh xưa dường như đẹp thế, nay đã hoang tàn, phế tích. Có thể thấy những chữ “tận” có nghĩa là hết, là kiệt cùng. Bao trùm lên cảnh vật là một màu sắc tang thương, đau buồn. Có thể nói chính nơi gò hoang ấy dường như chỉ còn lại nấm mồ người bạc mệnh và một mảnh giấy tàn (nhất chỉ thư). Có thể nói một mình nhà thơ đứng lặng trước cửa sổ đọc được “mảnh giấy tàn” điếu người xấu số. Có thể nói rằng thương cuộc đời bể dâu và dường như cũng là thương người, thương người bạc mệnh cũng là thương mình. Có lẽ như đã xót xa và thương cảm. Đó có thể nói chính là sự cảm thông của khách tài tử với giai nhân như lại bạc mệnh, của người đang sống và như đối với người đã khuất. Và dường như sau hơn ba trăm năm nàng Tiểu Thanh mất mà “mảnh giấy tàn” của nàng vẫn còn làm cho Nguyễn Du thổn thức, rơi lệ.

doc tieu thanh ki

Dường như hai câu thơ trong phần thực như chứa đầy cái uất ức của Tố Như:

“Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

“Chỉ phấn” chính là từ chỉ son phấn tượng trưng cho sắc đẹp của Tiểu Thanh. Văn chương còn chính hiện thân cho tài năng của nàng. Có thể thấy Nguyễn Du hỏi đời và hỏi người nhưng mà là để khẳng định: Son phấn có thần, sau khi chết người ta còn xót thương, tiếc nuối. Văn chương dường như lại còn có số mệnh gì mà người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau khi bị đốt đi. Hai vật son phấn và văn chương như những chứng nhân về cuộc đời, hay là nhân chứng về kiếp người oan khổ, ly hận biết bao khó khăn. Và cũng chính vì thế nên son phấn, sắc đẹp thì “có thần”, nó vẫn sống mãi mãi với thời gian và lòng người đẹp như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi…. Dường như cũng như hoa tàn nhưng hương hoa, cũng như linh hồn của hoa còn tỏa ngát đau đây, ta có thể thấy chính sắc đẹp của giai nhân vẫn sống mãi cùng tên tuổi họ như là “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Và chính những nỗi hận và xót xa của “son phấn” như còn chính là nỗi đau thương, những nỗi hận của nàng Tiểu Thanh, đó chính là “Tuổi trẻ bị chôn vùi, sắc đẹp bị hãm hại một cách vô cớ. Và có thể nói văn chương là tài năng, là vẻ đẹp tinh thần của Tiểu Thanh. Văn chương cũng được biết đến vốn vô mệnh vì nó vô tri, đâu có sống, chết như Người. Ấy chính vậy mà “mảnh giấy tàn” của một người bạc mệnh “vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”, dường như đã cũng đã chống chọi lạc cùng cái ác, vươn lên mà tồn tại, làm nhức nhối người đời, xưa và nay. Đại thi hào Nguyễn Du nói về “son phấn” và cả  “văn chương” dường như là để khẳng định ngợi ca tài sắc Tiểu Thanh, và cũng như của mọi tài tử giai nhân trong cuộc đời bể dâu.

Khi nghĩ về tài sắc giai nhân và cái đẹp trong cõi nhân gian, Nguyễn Du dường như cũng đã rất xót xa suy ngẫm về lẽ đời và tình người trong mọi điều oan trái:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư”

Có thể sự oán hận xưa và nay khó mà hỏi trời được. Dường như đất dày trời cao “Oan này còn một kêu trời nhưng xa” (“Truyện Kiều”). Nói như đã hỏi trời vì không thể hỏi người. Và ngay cả khi đã “thiên nan vấn” tức là nỗi bế tắc, oan khổ đày rẫy mọi nơi, mọi chốn trong cuỗ đời này. Câu thơ này dường như một tiếng kêu thương rung động cả cõi đất, trời. Và ta như đã thấy được những nỗi oan phong vận kỳ dị kia, ta như cũng đã tự mình lại buộc lấy mình. Nó rất phong nhã, phong lưu cùng với đào hoa là vẻ đẹp, là bản sắc của con người. Và ta như thấy trong cõi đời ta mấy ai được phong nhã hào hoa? Phong lưu là niềm mơ ước của nhiều người. Và tại sao Nguyễn Du lại gọi là “cái án phong lưu”. Có thể thấy khách phong lưu đáng lẽ ra phải được hưởng cái nhàn nhã, thanh thản cuộc đời sao lại phải mang cái án oái ăm vào mình? Đúng chính là nghịch lý, nghịch cảnh. “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”. Dường như đã bao đời nay, “cái án phong lưu ấy” đã đeo đẳng vô số tao nhân mặc khách biết bao đời nay. Ta cũng như đã thấy Nguyễn Du đâu phải là kẻ đó chính là “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” mà là đã nhập thân vào Tiểu Thanh đẻ nói lên những điều day dứt, băn khoăn bao đời nay. Khách tài tử phong lưu kia dường như đã tri âm với giai nhân bạc mệnh là vậy. Họ dường như là rất tài tình, là cái đẹp, là khát vọng về cái đẹp, nên họ cảm thương nhau. Nguyễn Du đã cảm thương Dương Quý Phi (Dương Phi cố lý), đã “thổn thức” Tiểu Thanh,… cũng với cảm tâm của một khách tài tử. Thương nàng Tiểu Thanh bao nhiêu, ông càng thương mình bấy nhiêu nhiêu. Có thể thấy “Độc Tiểu Thanh ký” là khúc bi ai thương người, cũng là lời tự thương đau xót:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như”

Ta có thể thấy rằng trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký”, ông như đã lại xót xa hỏi: “Son phấn có thần chôn vẫn hận – Văn chương vô mệnh đốt còn vương?”. Và dường như bài thơ cho ta thấy niềm thương cảm sâu xa của Tố Như đối với con người là vô cùng mênh mông. Đời người thật hữu hạn biết bao nhiêu, dường như cái nỗi đau của con người – con người bạc mệnh là vô hạn. Qua bài thơ ta như thấy cái tâm trong sáng của Nguyễn Du.