Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 10 / Phân tích bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu- Văn 10

Phân tích bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu- Văn 10

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu

Thôi Hiệu được biết đến là người có bản tính lãng mạn. Và có thể khẳng định rằng thơ của Thôi Hiệu như rất phóng khoáng, tao nhã. Có thể thấy rằng  đã có rất nhiều những tác phẩm hay nhưng dường như nổi bật lên đó là khúc nhạc phủ Trường Can Hành và bài thơ đặc sắc “Hoàng Hạc Lâu” cũng như đã đưa ông lên đỉnh cao sáng chói của nghệ thuật thơ Đường. Nhưng ta như thấy được sự đặc sắc hơn cả vẫn là bài thơ “Hoàng Hạc Lâu”.

Bài thơ được ví như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và đầy lãng mạn như đã nói về cảnh ở Hoàng hạc Lâu. Và có thể thấy được khi đứng trước lầu Hoàng Hạc, nhà thơ đã nhớ đến huyền thoại xưa, và có cả sự nuối tiếc điều tốt đẹp đã qua và suy ngẫm về cuộc sống. Thơ Đường từ lâu đã được biết đến là nó vốn súc tích, cô đọng và đa nghĩa. Và lầu Hoàng Hạc được coi là một di tích lịch sử nổi tiếng của Trung Hoa gắn với huyền thoại kỳ ảo Phí Văn Vi thành tiên. Và có thể xem đây chính là một cảnh đẹp xưa nay hiếm thấy vậy nên tác giả dường như cũng đã đặt mình vào thiên nhiên để miêu tả và ta như thấy được khung cảnh thiên nhiên hung vĩ của Hoàng hạc Lâu. Đó chính là một di tích đã có nhiều di tích lịch sử cũng như những chiến công của người Trung Hoa, nó cũng chính là chứng nhân lịch sử chứng kiến nhiều chiến công.

Ấn tượng đầu tiên là khi mở đầu bài thơ tác giả đã nhắc lại nguồn gốc của lầu Hoàng Hạc từ xa xưa :

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

(Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.)

Lầu Hoàng Hạc lúc này như trơ chọi giữa một khoảng không gian rộng lớn mênh mông, trơ chọi giữa một vùng đất trời rộng lớn không có bóng dáng con người.  Và có thể thấy lầu Hoàng Hạc vẫn đứng sừng sững giữa một không gian rộng lơn, hiu hút, dường như cũng đã phải trải qua bao tang thương của những cuộc chiến tranh, giờ đây lầu Hoàng Hạc như phải đứng chơ vơ, cô quạnh bên bãi vắng sông trôi khiến thi nhân chạnh lòng, như đã rất nhớ cổ thương kim. Đặc biệt ta nhận thấy rằng ngay từ hai câu thơ khởi đề ta đã gặp một tâm trạng. Nhà thơ thật tinh tế khi không tả về  hiện tại cái đang có mà nhớ về một cái đã có và đã mất. Bình thường thì người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi mất. Nơi đây còn trơ lại lầu Hoàng Hạc, một dấu tích  lịch sử những kỉ niệm xa xưa. Có thể thấy rằng lầu  Hoàng Hạc có con chim Hạc vàng hay là cả Cánh hạc vàng trở về trong tâm tưởng chỉ để con người thêm khắc khoải, cũng như đã thấm thía sự mất mát. .. Và chính với hai câu đầu đã thể hiện một sự trống vắng, sự hẫng hụt trong tâm hồn. Nhưng trong hoài niệm của con người, cánh hạc vàng kia như đã vẫn còn day dứt khôn nguôi.

Phan tich Hoang hac lau

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tỉa, không du du.

(Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa,

Mây trắng nghìn năm lởn vởn hoài.)

Ta như thấy được dường như hình ảnh hạc vàng gắn liền với khung cảnh thần tiên. Hạc vàng bay mất và cũng như không bao giờ quay trở lại mang theo tất cả những gì là huyền ảo nhất như đầy cả những sự thơ mộng nhất của lầu Hoàng Hạc. Có lẽ lúc này như chỉ còn mây trắng vẫn bay giống như ngàn năm trước mà thôi. Và dường như trước khung cảnh được miêu tả bằng cảm xúc ngậm ngùi, nuối tiếc của nhà thơ. Nhà thơ cũng như đã chìm đắm trong tâm trạng hoài cổ, giữa không gian tịch mịch cô liêu. Ta như cũng đã thấy được tâm trạng của nhà thơ lúc này cũng đang hòa quyện với khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ở Lầu Hoàng Hạc tâm trạng buồn rầu cô đơn hiu quạnh, như that trống trải trong tâm hồn nhà thơ đó nhưng chỉ là những kỉ niệm về những thứ đã qua mà thôi.Và những điều này đã làm cho tác giả tiếc nuối những quãng thời gian đẹp đẽ đó nhưng giờ đã mất đi và vĩnh viễn không quay trở lại. Chính điều này đã làm cho tác giả chỉ luyến tiếc và trống trải trong tâm hồn của mình. Dường như là vẫn nói chuyện hạc vàng bay đi và không trở lại nhưng có lẽ rằng ở đây không chỉ có sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại mà còn có sự đối lập giữa cõi tiên và cõi tục. Hạc vàng cũng như  đã bay về cõi tiên nên nơi đây. Và như dưới còn trơ lại lầu Hoàng Hạc, trên trời mây trắng bay chơi vơi, dường như còn mong nhớ tiếc nuối điều gì đó. Chính với bốn câu thơ đầu tập trung tả cảnh và cũng như đã lí giải tích lầu Hoàng Hạc. Tác giả như bàn chuyện xưa và nay để thể hiện tâm trạng, những nghĩ suy. Đó có thể nói là một nghĩ suy mang triết lí nhân sinh sâu sắc – triết lí về sự còn – mất, và đó chính là nói về sự vô hạn và hữu hạn của trời đất và nhân sinh. Cái gì đã qua đi thật khó trở lại, thời gian cũng vậy, và vì vậy nên người xưa mới từng nói : “thời gian quý như vàng”.

Một khung cảnh thiên nhiên đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình với những đường nét, màu sắc hài hòa biết bao. Đó là hình ảnh nắng chiếu trên hàng cây trên bến Hán Dương, và có cả màu xanh mướt của thảm cỏ non trên bãi xa Anh Vũ:

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

(Tinh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.)

Câu thơ dường như cũng mở ra một không gian rộng  lớn và thanh bình yên tĩnh. Qủa thực đây là một bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời với những ánh nắng sương mai như cũng đã soi xuống dòng sông như một tấm gương khổng lồ vào chính với hàng cây tươi tốt soi bóng. Và ta như thấy được giữa mặt song trong lành đó  là màu xanh tươi mơn mởn của cỏ cây mùa xuân. Dường như sau những khoảnh khắc  đắm hòa mình cùng huyền thoại, ta như thaasyy được nhân vật trữ tình lại trở về với hiện thực. Như đã tạo nên được một bức họa thật đẹp và kỳ vĩ. Đây chính là một bức hoạ về một lầu Hoàng Hạc như đã soi bóng dòng Trường Giang cùng với hình ảnh của cây cối, của cỏ xan.

Ta như thấy được tâm trạng thương nhớ quê hương da diết của Thôi Hiệu. Có lẽ rằng chính với những hình ảnh trên sông  là nhân tố gợi ra những  nỗi nhớ  khôn nguôi trong lòng nhà thơ. Một khung cảnh chập chờn như đã mở ra một sự mông lung của cảnh vật đã hòa mình cùng với tâm trạng của nhà thơ :

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

 Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Có thể nói rằng chính với nỗi nhớ quê hương da diết cùng với tâm trạng buồn co đơn, khi mà được ngắm cảnh nảy tình của nhà thơ đã tạo cho bài thơ những đặc sắc và thật ấn tượng. Sự đặc sắc và ấn tượng dường như cũng đã để lại nhiều day dứt trong lòng người đọc bởi một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hơn hết đó là những nối nhớ thương của tác giả đối với cảnh vật đang tồn tại xung quanh con người mình. Thi phẩm “Hoàng Hạc Lâu” dường như cũng đã để lại những giá trị to lớn trong  nền văn học Việt nam với bức tranh thiên nhiên đẹp, và cả một tâm trạng của con người với cảnh tức cảnh sinh tình.