Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 11 / Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận- Văn 11

Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận- Văn 11

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.

Huy Cận được xem là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ Mới. Và có thể nói trong thơ ông có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển. Bài thơ đặc sắc “Tràng giang” đã được nhà thơ Huy Cận viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, nó như đã gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơ dường như cũng đã để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

Thật dễ có thể nhận thấy ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Thật đặc sắc với hai chữ “Tràng giang” có thể nói là một con sông dài, mênh mông và bát ngát. Có thể dễ nhận thấy từ Hán việt này khiến người ta liên tưởng đến những bài thơ Đường nổi tiếng của Trung quốc. Nhưng dường như cũng chính tràng giang này cũng gợi lên được tâm tư của người trong cuộc khi muốn nhắc nhớ tới những thân phận nổi trôi, bé nhỏ sống lênh đênh trên con sông dài tâm tưởng và sông của nỗi u uất như thế.

Và dường như chính lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” thêm một lần nữa khái quát nên chủ đề của bài thơ chính đó không gì khác là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la. Có lẽ cả bài thơ toát lên được vẻ đẹp mang sự xem kẽ vừa hiện đại vừa cổ điển, cũng là đặc trưng trong thơ của Huy Cận.

Trong khổ thơ đầu tiên thôi mà tác giả như cũng đã khiến người đọc liên tưởng đến một con sông chất chứa bao nỗi buồn sâu thẳm:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu tram ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Thành công với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu tram ngả”, lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như Huy Cận cũng đã lột tả hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như thế này.Với những nét chấm phá của cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại. Tác giả dường như cũng đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hơn hết là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, đơn lẻ trên dòng nước mênh mông, vô tận, vô đinh. Có thể thấy sức gợi tả của câu thơ thực sự đầy ám ảnh, môt con sông dài, một con sông mang lại được một nét đẹp u buồn, trầm tĩnh càng khiến người đọc thấy buồn và thê lương. Và vốn dĩ thuyền và nước chính là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu tram ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay đó chính là sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh long hiu hắt quá. Và đó chính là một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùng sông nước dập dềnh. Thật dễ nhận thấy chính điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi lên sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt khắp nơi. Có thể nói rằng chính câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó. Và đó chính là một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội biết bao nhiêu.

Phan tich bai tho trang giang

Cho đến khổ thơ thứ hai thì dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bộ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Với hai câu thơ đầu dường như cũng đã phảng phất một khung cành buồn thiu, đìu hiu và vắng lặng của một làng quê thiếu sức sống. Đó có phải chính là quê hương của tác giả hay không? Dường như chính hình ảnh “cồn nhỏ” nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tái lòng ở ven dòng sông dường như cũng đã khoác lên mình một nỗi buồn mặc định. Và ngay cả một tiếng ồn ào nhỏ của phiên chợ chiều ở nơi xa xa dường như cũng không thể nghe thấy, hay có chăng phiên chợ ấy cũng buồn đến hiu quạnh đến đìu hiu như vậy. Ta có thể nhận thấy rằng một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa, hỏi người hay là tác giả đang tự hỏi bản thân mình. Và cũng từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu. Có lẽ chính những khung cảnh hoang sơ, tiêu điều đến lạ nơi bến nước không có một bóng người, không có một tiếng động thật chua xót. Hai câu thơ cuối dường như đã  tác giả mượn hình ảnh trời và sông để đặc tả sự mênh mông vô định biết nhường nào. Có lẽ không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là nét tài tình, tinh tế và độc đáo của Huy Cận. Ta như thấy được chính những hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết  nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai ấy.

Đến khổ thơ thứ ba, tác giả Huy Cận lúc này lại muốn tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh này nhưng dường như thiên nhiêu không như long người mong ngóng:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ 3 dường như người đọc chúng ta lại có thể nhận ra một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ thứ hai nữa. Từ “dạt” dường như dược sử dụng rất đắt nó như đã diễn  tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật này. Tuy nhiên từ ngữ này gắn liền với hình ảnh “bèo” lại như đã  khiến cho tác giả thất vọng vì “bèo” được biết đến vốn vô đinh, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, dường như cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò. Tác giả  Huy Cận lại như cũng chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể được.

Những nỗi niềm mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu và ảm đạm thê lương.

Và thật dễ nhận ra trong khổ thơ cuối dường như bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Có thể nói và khẳng định tư tưởng cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng them sầu, them buồn hơn. Dường như chính  hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Và cả cái bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống.

Với việc sử dụng hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gủi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của Huy Cận dường như cũng đã khiến chúng ta liên tưởng đến tứ thơ của Thôi HIệu:

Trên sông khói sóng cho buồn long ai

Là sóng của sông hay là sóng trong lòng người

Bài thơ  đặc sắc “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển dường như cũng đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh. Thông qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành nhất, sâu sắc của Huy Cận.

\