Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 11 / Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương- Văn 11

Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương- Văn 11

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Tự tình” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương

Có thể nói thân phận lẽ mọn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến chính là một đề tài khá phổ biến trong văn học dân gian cũng như là trong văn học viết thời hiện đại. Tình yêu và hanh phúc gia đình dường như là một trong những mối quan tâm lớn của văn học từ xưa đến nay. Có lẽ chính bởi nó đã góp phần thế hiện rõ tinh thần nhân đạo trong văn học. Có thể nói chùm thơ “Tự tình” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất và hay nhất viết về người phụ nữ trong vàn học Việt Nam-nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Bài thơ nói về người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng nghe tiếng trống cầm canh báo thời khắc đi qua. Canh khuya được biết là thời gian từ nửa đêm cho đến sáng. Nàng như cũng đã cảm thấy tiếng trống canh báo hiệu thời gian khắc khoải mong ngóng một điều gì. Nhưng có thể thấy rằng nàng càng mong lại càng không thấy. Tiếng trống canh đang dồn dập như vang vọng  kia chính là thông báo về thời gian tâm trạng của nàng. Nó dường như cũng đã thể hiện nỗi chờ mong khắc khoải, thảng thốt thiếu tự tin, nhưng cũng đầy lo âu và tuyệt vọng của người đàn .

Hồ Xuân Hương thật tài tình khi đã diễn tả tâm trạng bẽ bàng của người vợ cô đơn chờ mong chồng mà chồng không đến bằng một chữ trơ – trơ trọi, và “trơ cái hồng nhan” trơ cái thân phận phụ nữ với nước non, với đời, với tình yêu.

Trong hai câu tiếp theo, nữ sĩ Hồ Xuân Hương diễn tả tâm trạng tuyệt vọng cùa người vợ chờ chồng.

Câu thơ thật lạ khi đã ẩn chủ từ, chỉ thấy hành động và trạng thái diễn ra mà thôi. Có lẽ chính chén rượu hương đưa nghĩa là uống rượu giải sầu cho quên sự đời, nhưng thật bất hạnh khi say rồi lại tỉnh, tức là uống rượu vẫn không quên được mối sầu!

Hình ảnh đầy ám ảnh “Vầng trăng bóng xế” trong câu bốn có nghĩa là đêm đã gần tàn, nhưng trăng chưa tròn mà đã xế, dường như cũng đã thể  hiện cảm xúc về hạnh phúc chưa tròn đầy. Vầng trăng bóng xế dường như cũng có thể có hàm ý chỉ tuổi người đã luống mà hạnh phúc chưa đầy, và chưa trọn vẹn.

Phan tich bai tho tu tinh

Nếu như bốn câu thơ đầu tiên trong bài ta như thấy được nó đã diễn tả cái tâm trạng chờ đợi mòn mỏi có phần tuyệt vọng, buông xuôi, thì với ở hai câu năm và sau, Hồ Xuân Hương đã thật bất ngờ vẽ ra hình ảnh một sự cảm khái. Và còn đó cái đám rêu kia còn được bóng trăng xế như đã xiên ngang mặt đất soi chiếu tới. Ta có thể như đã tưởng tượng mấy hòn đá kia còn được ánh trăng đâm toạc chân mây để soi đến. Và thì ra thân phận mình cô đơn không bằng được như mấy thứ vô tri vô giác kia. Và nhận thấu đây không nhất thiết phải là cảnh thực, mà có thể chỉ là hình ánh trong tâm tưởng. Mấy động từ xiên ngang, đâm toạc dường như lại có ý tiếp cái mạch vẩng trũng bóng xế ở câu trên. Nhưng ta vẫn thấy các sự vật, hình ảnh thiên nhiên ở đây diễn ra trong dáng vẻ khác thường không theo quy luật của tự nhiên. Có lẽ đó là do việc tác giả sử dụng những từ ngữ chỉ hành động có tính chất mạnh mẽ, dữ dội:

Xiên ngang mặt đất/ rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây/ đá mấy hòn.

Với hai câu thơ trên đây cũng có thể hiểu là đảo ngữ: rêu từng đám xiên ngang mặt đất, còn đá mấy hòn vươn lên để có thể đâm toạc chân mảy. Và đó không phải là hình ảnh của ngoại cảnh bên ngoài nữa mà là hình ảnh của tâm trạng, một tâm trạng bị dồn nén, bức bối muốn đập phá, và cũng như muốn làm loạn, muốn được giải thoát khỏi sự cô đơn, chán chường. Nó dường như đã thể hiện cá tính manh mẽ, táo bạo của chính Hổ Xuân Hương.

Ta như có thể thấy những dồn nén, bức bội, hay đó chính là sự đập phá của tâm trạng nhà thơ bất ngờ bộc phát, và dường như cũng bất ngờ thay nó lại lắng dịu, nhường chỗ cho sự trở lại của nỗi buồn chán và bất lực. Đó còn chính là sự chấp nhận và cam chịu. Có thể nói câu thơ “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại’ như đã chứa đựng biết bao nhiêu là thời gian và sự chán ngán kéo dài. Cuộc đời cứ trôi đi, thời gian cứ trôi đi, tình yêu và hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút mà thôi. Tác giả Hồ Xuân Hương như  đã đi, tình yêu mà hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút. Tác giả cũng thật tinh tế khi đã dùng từ mảnh tinh để nói cái tình bé như mảnh vỡ. Lại nói san sẻ – Chắc là san sẻ với chồng, san sẻ với vợ cả chăng? Trong hai câu thơ cuối khép lại bài thơ nó như là một tổng kết, như một lời than thở thầm kín của người phụ nữ xưa  có số phận lẻ mọn về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi không trọn vẹn trong xã hội xưa.

Bài thơ “Tự tình” như chính là lời than thở cho số phận hẩm hiu của người phụ nữ chịu cảnh lẽ mọn, thể hiện một thái độ bi quan, và chán nản biết bao của tác giả và thân kiếp thiệt thòi của con người.

Nhưng có thể nói đặc sắc nhất về nghệ thuật của bài thơ là sử dụng những từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh. Tác giả Hồ Xuân Hương như đã chủ yếu sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, giàu màu sắc, đường nét với sắc thái đặc tả mạnh, bằng chính những động từ chỉ tình thái có thể kể ra như: dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc, đi, lại lại, san. sẻ, … và tính từ chỉ trạng thái đó chính là:say, tỉnh, khuyết, tròn… để miêu tả những cảm nhận về sự đời và số phận.

Có lẽ hình ảnh trong bài thơ gây ấn tượng rất mạnh bởi nghệ thuật đặc tả. Nhà thơ đã thường đẩy đối tượng miêu tả tới độ cùng cực của một tình trạng mang tính tạo hình cao. Nhu nói về sự cô đơn, trơ trọi đến đau xót của người phụ nữ thì việc “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Mấy chữ được sử dụng rất đắt là xiên ngang, đâm toạc đều là những hành động mạnh mẽ như muốn tung phá, như tràn đầy sức sống thể hiện những cảm xúc trẻ trung.

Tác phẩm “Tự tình” dường như đã trình bày một cách nghệ thuật mối mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc lứa đôi thật trọn vẹn, viên mãn của người phụ nữ trong cảnh lẽ mọn với hiện thực phũ phàng là sống trong cô đơn, trong sự mòn mỏi mà họ phải chịu đựng, giữa mong ước chính đáng được sống trong hạnh phúc vợ chồng và cả với việc chấp nhận thân phận thiệt thòi do cuộc sống đem lại.

Bài thơ dường như đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với nỗi bất hạnh của người phụ nữ, phê phán gay gắt chế độ đa thê trong xã hội phong kiến, đồng thời thể hiện rõ sự bất lực và cam chịu của con người trước cuộc sống hiện tại.

Bài thơ cũng như đã diễn tả một tình cảm đáng thương, một số phận đáng cảm thông, một khát vọng đáng trân trọng, một tâm trạng thật đáng được chia sẻ của người phụ nữ trong xã hội xưa kia. Có thể nói dường như những mơ ước hạnh phúc đó là hoàn toàn chính đáng nhưng không thể thực hiện được trong điều kiện xã hội lúc bấy giờ Đó là bi kịch không thể giải toả. Chính vì thế giọng điệu của bài thơ vừa ngậm ngùi vừa ai oán. Yêu cầu cần phải giải phóng con người và giải phóng tinh cảm chỉ có thể tìm được lời giải đáp dựa trên cơ sở cũa những điều kiện lịch sử – xã hội mới mà thôi.