Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 12 / Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12

Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12

Đề bài: Em hãy phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. 

Có thể thấy rằng trong không khí hân hoan của văn chương nghệ thuật khi đón nhận thơ mới, nhà thơ Tố Hữu lại lựa chọn nằm ngoài làn gió thời đại, quay về với hồn phách dân tộc. Và có thể nói rằng với thể thơ lục bát cổ truyền, bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu dường như đã làm sống lại không chỉ hào khí của một thời lửa cháy mà còn cả tình quân dân như cá với nước. Như là một bài dân ca, một khúc hát trữ tình thiết tha vậy, ta như thấy từng câu thơ thắp sáng trong lòng người đọc những kỷ niệm thương nhớ biết bao nhiêu trong những năm kháng chiến chống Pháp ở rừng Việt Bắc. Và cũng vì nơi ấy, dường như không chỉ có tình người mà thôi, mà nơi đó còn có cả cảnh vật nên thơ trữ tình, làm nên một bức tranh tứ bình mang đậm nét riêng của Việt Bắc:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Vốn như đã mang nặng nghĩa tình và tình cảm với cảnh vật và con người nơi rừng núi Việt Bắc. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã vẽ nên một Việt Bắc không những thấm đẫm tình người mà dường như ngay cả thiên nhiên nơi đây cũng khiến lòng người xuyến xao. Thi nhân từ trước đến nay đã như vẫn luôn không thể cưỡng lại sức hấp dẫn của thiên nhiên, và không ngoại lện nhà thơ Tố Hữu cũng vậy. Bằng vài nét phác họa tinh tế, cảnh rừng Việt Bắc hội tụ cả bốn mùa hiện lên trước mắt người đọc. Bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông như đã được gói gọn trong tám câu thơ lục bát.

Phan tich buc tranh tu binh trong bai viet bac

Và không theo lẽ thường bắt đầu bằng xuân rồi hạ, thu rồi đông, Tố Hữu bắt đầu bức tranh của mình bằng hình ảnh của mùa đông – một quy luật thường thấy đối với tranh tứ bình. Mùa đông ấy như đã hiện lên thật đẹp :

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ấm dao gài thắt lưng.”

Dường như không có không khí lạnh lẽo, cũng chẳng có chút tư vị khô khốc nào cả mà của mùa đông chính là nét hay và là một nét đặc sắc trong nghệ thuật tả cảnh của Tố Hữu. Và thay vì để miêu tả không khí ra sao, cảnh vật như nào một cách cụ thể thì dường như Tố Hữu đã lựa chọn những chi tiết đắt giá nhất, tiêu biểu nhất dùng làm biểu tượng cho mùa đông Việt Bắc. Ở đây chính là hình ảnh hoa chuối. Dường như trên cái nền rằng xanh mát tươi non mơn mởn là màu đỏ tràn đầy ấm áp của hoa chuối. Điều này dường như đã khiến cho vạn vật xung quanh đều như được sưởi ấm. Với một lối tả mang gợi nhiều hơn đặc tả giúp người đọc thỏa chí sáng tạo, suy ngẫm và như đã tự vẽ nên cho mình bức tranh mùa đông Việt Bắc. Dường như nắng ấm thậm chí không mất đi  mà còn tô điểm thêm cho ánh đỏ hoa chuối, làm nó càng thêm chói lọi hơn. Hình ảnh đặc sắc “Dao gài thắt lung” đã như làm khung cảnh như được tiếp thêm sức sống của hơi ấm con người, xua tan đi không khí hoang dã của vừng rừng thâm u Việt Bắc. Đó cũng chính là một vẻ đẹp của lao động – vẻ đẹp không bao giờ mất đi giữa cuộc sống này.

Đông qua thì xuân tới mang theo trăm hoa đua nở thật đẹp

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón truốt từng sợ giang.”

Có thể thấy vùng núi Tây Bắc vốn nổi tiếng bởi ắc trăng hoa mơ hoa mận. Mỗi khi mùa mơ mận về, cả cánh rừng đại ngàn lại ngập trong sắc trắng tinh khôi như vườn địa đàng. Không khí mùa xuân đến như đã lan tỏa muôn nơi, thổi bừng lên sức sống. Tràn ngập không khí là sự tinh khôi ngất ngây lòng người. Và dường như trung tâm của khung cảnh trắng tinh khiết ấy là con người Tây Bắc đang “truốt từng sợi giang”. Có biết bao nhiêu sợi giang là bấy nhiêu sợi nhớ sợi tình, sợi thương. Tuy cảnh vật tĩnh lặng là vậy nhưng dường như lại vẫn sống động bởi sự xuất hiện của con người lao động – những con người “đẹp tựa chân lý sinh ra”.

Có thể nói những nỗi nhớ về người và vật cứ đan xen mỗi lần nhớ về vùng núi thân quen, kéo dài triền miên từ năm này sang năm khác, khiến tâm tưởng tác giả không thôi bồi hồi xúc động. Chẳng mấy chốc mà hạ đã sang :

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Từ rừng núi hạ sang  thường râm ran tiếng ve kêu, nơi nơi dường như đã đều tràn ngập ánh nắng cháy bỏng tuôn chảy như mật, và như rót lên từng tán cây, ngọn cỏ. Và cho đến tận bức tranh mùa hạ nhộn nhịp, con người mới hiện lên một cách cụ thể,rõ ràng. Đó còn chính là hình ảnh đầy ngọt ngào và thân thương của “cô em gái hái măng”. Tưởng như trong tiếng ve râm ran là nắng hạn lung linh cùng người con gái vẫn hăng say lao động dường như cũng đã tạo nên vẻ đẹp của sự nhiệt huyết, sự căng tràn của sức sống tươi vui. Tiếng ve gọi hè kết thúc sẽ là lúc tiết trời nhường bước cho thu sang :

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Cũng đã không biết từ bao lâu trăng thu vẫn được xem là đẹp nhất. Vậy nhưng ánh trăng ở đây không phải chỉ ánh trăng bình thường thôi đâu mà đó chính là ánh sáng của độc lập tự do, là ánh trăng sáng tỏ, rõ ràng của các mạng tháng Tám. Và dường như ở giữa khung cảnh khơi gợi lòng người, tình người, ánh trăng như luồn lách thật sâu vào tâm tương thi nhân đê thấy nỗi nhớ nhung trong lòng mà không có bất cứ đối tượng cụ thể nào. Như những sự nhớ nhung bâng khuâng trong câu thơ Tố Hữu như đã khiến người đọc, người nghe nhớ đến nỗi nhớ của Nguyễn Bính

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai.

Và có lẽ như đó chính là nỗi hoài niệm về những ngày tháng chung lưng đấu cật ở chiến khu Việt Bắc – nơi đầu não của cách mạng.

Với bốn cặp câu thơ chữ ít ý nhiều hòa vào tâm hồn người đọc, như đã và đang giăng mắc và vấn vương như chẳng bao giờ có thể rời khỏi. Việt Bắc chính là nơi đã khiến trái tim nhà thơ rung động bởi vẻ đẹp ở cả cảnh vật lẫn con người. Và hơn thế, khi nhà thơ nhớ nhớ về Việt Bắc, Tố Hữu như còn đang nhớ lại tình nghĩa nặng sâu của những con người trong kháng chiến chống Pháp.