Home / Văn mẫu THCS / Văn lớp 7 / Phân tích đoạn trích “Sau phút chia ly” của Đoàn Thị Điểm – Văn lớp 7

Phân tích đoạn trích “Sau phút chia ly” của Đoàn Thị Điểm – Văn lớp 7

 Đề bài: Phân tích đoạn trích “Sau phút chia ly” của Đoàn Thị Điểm – Văn lớp 7

Bài làm

         “Chinh phụ ngâm khúc” – Đặng Trần Côn là khúc ngâm của người chinh phụ có chồng ra chiến trận, là nỗi lòng bi thương của người vợ khi chờ đợi chồng trở về trong cảnh lẻ loi, đơn bóng. Đoạn trích “Sau phút chia ly”  đã diễn tả một cách sâu sắc nhất nỗi lòng bi ai đó của những cặp vợ chồng trẻ trong chiến tranh ở xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Dù là bản chữ Hán của Đặng Trần Côn hay bản chữ Nôm được dịch bởi Đoàn Thị Điểm thì đây cũng là một tác phẩm bất hủ

Phân tích đoạn trích Sau phút chia ly - Đoàn Thị Điểm
Phân tích đoạn trích Sau phút chia ly – Đoàn Thị Điểm

          Đoạn trích “Sau phút chia ly” – Đoàn Thị Điểm được viết bởi mười hai câu thơ song thất lục bát với giọng điệu lâm ly, diễn tả nỗi nhớ xót xa của người vợ có chồng ra chiến trận, sự chia ly không hẹn ngày đoàn tụ…….

                                                                            Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang

Khói Tiên Tương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu  xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

(Sau phút chia li – Trích Chinh phụ ngâm khúc)

Bốn câu thơ đầu tiên là nỗi lòng của người chinh phụ khi chồng vừa đi chiến trận, đôi vợ chồng trẻ đang trong tình cảm vợ chồng gắn bó, mặn nồng, cớ sao lại ra nông nỗi

                                                                               Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

     Nhà thơ đã dùng hình ảnh đối lập: “Chàng thì đi …. – Thiếp thì về”. Người thì đi vào nơi chiến trận, ở nơi chiến trận đó liệu có thể hứa trước ngày về, bao khó khăn vất vả. Nàng ở lại quê nhà, bên “buồng cũ chiếu chăn”, nỗi nhớ người ra đi khi nhìn những hình ảnh quen thuộc đó càng khiến cho người chinh phụ thêm xót xa, nỗi bi thương đó càng được khắc sâu vào trong tâm khảm. Sự chia ly đó được cách xa bởi không gian, sự mênh mang của đất trời. Nhà thơ đã dùng hai động từ “tuôn”, “trải” dường như nỗi bi ai đó của người chi phụ được phủ lên cả màu biếc của trời mây, sự bạt ngàn của núi rừng….. cứ xa xa mãi mà không thấy được điểm dừng, khiến cho người đọc cảm thấy xót xa cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

      Người chinh phu và người chinh phụ nhìn lại chỉ còn thấy bạt ngàn màu xanh của rừng núi, nhìn lên chỉ còn thấy mênh mang một màu thăm thẳm của trời cao. Vậy mà trong thâm tâm họ vẫn  đau đáu một nỗi nhớ về nhau

          Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

       Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang

Bằng nghệ thuật tương phản “Chàng còn ngoảng lại……. – Thiếp hãy trông sang”, sự xa cách về mặt địa lý “Chốn Hàm Dương”, “Bến Tiêu Tương” sự xa cách đã lên đến mấy trùng nhưng dường như không làm cho tình cảm của người chinh phu, chinh phụ chia cách mà dường như nỗi nhớ thương đó còn được khắc sâu hơn nữa. Hỏi rằng ngươi ra đi và người ở lại ai bi ai hơn?. Bằng nghệ thuật điệp từ và đảo ngữ của hai địa danh “Chốn Hàm Dương”, “Bến Tiêu Tương” ta cảm nhận được nỗi nhớ đó tạo nên một vòng tròn khép kín, không có cách nào có thể thoát ra được, nỗi nhớ đó được chia đều cho cả hai người. tình cảm nhớ nhung đó cứ tăng dần tăng dần, nhưng càng hướng về nhau thì sự xa cách về mặt địa lý càng khiến họ chia xa mãi mãi                   

                                                                         Càng trông lại mà càng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu  xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

       Ở khổ thơ trên, tuy hai người đã chia xa nhưng ít nhất họ vẫn còn ý niệm về mặt địa lý “ Hàm Dương, Tiêu Tương” để hai người còn có thể hướng về nhau nhưng đến khổ thơ này khi “cùng trông lại” họ chỉ thấy sự mờ ảo, hai hình hài chàng và thiếp bị lu mờ chỉ còn nhìn thấy mỗi màu xanh biếc “những mấy ngàn dâu”. Tác giả thật khéo léo khi sử dụng nghệ thuận đối nghịch, điệp ngữ rất ấn tượng “càng…càng”, “thấy… thấy”, tính từ “xanh xanh” khiến cho sự biệt ly đó càng ngày càng khắc khoải, họ chỉ còn nhớ về nhau trong tâm tưởng, chẳng còn có thể lấy cây Hàm Dương hay bến Tiêu Tương…….. để ước tính nữa, chỉ còn một nỗi nhớ trong vô vọng, mọi sự có gắng đều  vô nghĩa. Thế nên người chinh phụ mới phải kêu lên “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”. Tuy đây là một câu hỏi nhưng câu thơ không có ý muốn trả lời, dường như chỉ muốn thể hiện sẽ tuyệt vọng của người chinh phụ. Nàng tuyệt vọng trước số phận, chỉ có thể gửi nỗi xót xa của mình vào mây gió. Từ “sầu” trong câu thơ cuối dường như còn là tiếng lòng, tiếng nấc nghẹn ngào của nàng, sự chờ mong dường như đã thành vô vọng, nàng tự hỏi người, cũng chính đang tự hỏi lòng mình.

      Tất cả nỗi lòng của nàng chinh phụ được khắc họa thật rõ nét qua đoạn trích “Chinh phụ ngâm khúc”. Qua đó, ta thấy được thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tiếng ai oán xót xa. Đoạn thơ mang giá trị nhận đạo,thấm nhuần tư tưởng nhân văn, tố cáo chiến tranh, tố cáo xã hội phong kiến bất công