Home / Văn mẫu THPT / Văn lớp 12 / Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- Văn 12

Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- Văn 12

Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài

Nằm trong tập “Truyện Tây Bắc’ có thể nói truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một trong những “đứa con tinh thần” ưu tú nhất của chuyến đi thực tế miền núi Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài.Có thể nói đây là tác phẩm phản ánh đậm nét cuộc sống và số phận bất hạnh và đầy éo le của những người nông dân nghèo dưới ách thống trị của bọn địa chủ phong kiến. Qua đó, dường như ta đã thấy được tác giả cũng làm nổi bật lên khát vọng và nghị lực sống mãnh liệt của những người nghèo khổ. Và bên cạnh nhân vật Mị thì nhân A Phủ chính là một nhân vật để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về sự bản lĩnh vượt lên số phận và vượt lên chính mình.

A Phủ là một nhân vật trong truyện, tuy không phải là nhân vật xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện nhưng dường như lại khiến người cho đọc ám ảnh cho mãi đến về sau. Nhân vật dường như đã xuất hiện trước mắt người đọc trong lần đánh nhau với A Sử – con trai thống lí Pá Tra nên bị bắt, bị phạt vạ và đánh đập rất dã man. Từ đây, có thể thấy rằng tác giả đã ngược dòng để kể về lại lịch của A Phủ, giúp người đọc hình dung rõ hơn về con đường đời vượt lên số phận của anh.

A Phủ được biết đến là một đứa trẻ sinh ra trong nghèo khổ, đau đớn hơn lại mồ côi cả cha lẫn mẹ sau một trận dịch đậu mùa. Chính vì vậy mà cả năm tháng tuổi thơ của anh phải sống kiếp nô lệ đọa đày khi bị người làng bắt trói rồi đem bán cho người Thái ở dưới cánh đồng. Thế nhưng, dường như đã không chịu khuất phục số phận,A Phủ đã liều lĩnh và bỏ trốn lên Hồng Ngài, anh đi làm thuê làm mướn đủ nghề từ mùa này sang mùa khác để kiếm sống nuôi thân. Và cũng bởi chính những  bản lĩnh gan góc, và một sức sống tiềm tàng đã được trui rèn trong những năm tháng cơ cực ấy và đó cũng chính là một trong những điều tạo nên sự bứt phá lớn hơn về sau trong cuộc đời A Phủ.

Phan tich nhan vat a phu

Từ khi trưởng thành, thì A Phủ như lại càng chứng tỏ con người gan góc, không chịu khuất phục, luôn có ý chí vượt lên số phận cay đắng để vươn đến những điều tốt đẹp, đáng mơ ước của mình. Chàng dường như đã “biết đúc lưỡi cày”, “đi săn bò tót rất bạo”. Chẳng những là một nhười lao động giỏi mà A Phủ lại còn có sức khỏe hơn người: “A Phủ chạy nhanh như ngựa”, có thể nói “Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng”. Có thể thấy chính những nghị lực sống và sức khỏe của anh dường như cũng đã khiến cho nhiều cô gái và người làng yêu mến.

Nhưng tiếc thay, A Phủ hiện lên lại là người không cha không mẹ, không nhà cửa, không ruộng nương và cũng chính vì những tập tục cưới vợ của người Mèo phải có trăm đồng bạc trắng cho nên mà đối với A Phủ chuyên lấy vợ với anh là chuyện quá xa xôi và có phần viển vông. Có thể thấy một chàng trai khỏe mạnh và cá tính như anh đáng lẽ ra anh phải được hưởng hạnh phúc vậy mà cuối cùng vẫn phải một mình cô độc như thế.

Và cho dù có nghèo đói, cơ cực nhưng A Phủ luôn sống lạc quan, tự tin vào tương lai phía trước. Vào trong những ngày lễ Tết, A Phủ dường như không có quần áo mới như những anh con trai khác mà với nhân vật A phủ thì lại “chỉ có độc một chiếc vòng cổ” nhưng “A Phủ cứ đi chơi cùng trai làng, đem sáo, khèn, con quay và cả quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”. Đã có rất nhiều cô gái kháo với nhau: “đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”.

Chẳng những thế, ở nhân vật A Phủ còn là một con người trọng tình và đầy nghĩa khí. Khi mà gặp chuyện bất bình, dù biết phần thiệt sẽ thuộc về mình và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nhưng A Phủ vẫn thường xông ngay vào để bênh vực cho bạn của mình. Điều này đã chứng tỏ nhân vật A Phủ là một chàng trai gan dạ và chí khí.

Và khi anh bị bắt về nhà thống lí Pá Tra, A Phủ đã bị bọn người nhà thống lý đánh đập hết sức dã man, tàn bạo từ trưa cho đến đêm muộn. Và hình ảnh “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Thế nhưng bọn người nhà thống lý “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Mặc dù bị đánh đập và rất đau đớn nhưng A Phủ không hề khóc lóc van xin mà trái lại “A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá”. Sự im lặng chịu đựng của anh đã cho thấy bản lĩnh gan dạ, không bao giờ chịu khuất phục dù trước mình là ai và sự bất lực, căm phẫn đến tột độ vì không thể làm gì được.

Cho đến cuối cùng, khi kết thúc phiên xử kiện tàn độc, A Phủ đã bị thống lý Pá Tra buộc làm nô lệ không công suốt đời cho nhà hắn để trừ nợ. Đó là kiếp người sống mà bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải đảm đương cả những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như  việc săn bot tót đầy nguy hiểm.

Với cảnh xử kiện và kết quả của cuộc xử kiện đã cho thấy giai cấp địa chủ thống trị dường như luôn luôn tìm cách đẩy người nông dân bần cùng xuống dưới đáy của xã hội, không cho họ có một chút cơ hội nào ngoi lên đòi quyền sống và được làm người đúng nghĩa. Có thế mà bọn địa chủ mới hả hê, mới yên lòng.

Chế độ xã hội phong kiến ở miền núi Tây Bắc còn tàn độc đến mức, con người có thể nắm giữ mạng sống của con người, có quyền sinh – sát đối với người khác. Là một con nợ, là nô lệ cho nên vậy mà tính mạng của A Phủ sống hay chết là nằm trong bàn tay của thống lý Pá Tra. Cũng chính vì lý do đó, chỉ vì để hổ vồ mất bò, A Phủ lại bị đánh, bị trói vào cọc “bằng dây sậy quấn từ chân lên vai”. Và chuyện A Phủ sẽ phải chết “chết đau, chết đói, chết rét”  là sẽ xảy ra. Và những cảnh tương tự mà Mị từng chứng kiến trong nhà thống lý Pá Tra – để thế mạng cho con bò đã bị hổ ăn thịt.

Tuy vậy, chính với bản lĩnh gan góc, không chịu khuất phục sẵn có, A Phủ nhất định không chịu chết chôn chân ở cái cộc gỗ ấy mà anh luôn tìm cách tự giải thoát cho chính mình“Đêm đến, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai đầu dây, nhích dần dây trói một bên tay”. Nhưng chưa kịp dứt ra thì trời cũng lại vừa sáng, Pá Tra lại tròng thêm vào cổ A Phủ một vòng dây trói nữa. Và nhân vật “A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa” đành chịu “đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya”. Và có thể thấy dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen của anh chính là những giọt nước mắt của sự cay đắng, sự cô độc, bất lực và tuyệt vọng. Và phải chăng chính vì trông thấy những giọt nước mắt đau đớn và tuyệt vọng ấy mà lúc này nhân vật Mị đã bùng lên ngọn lửa đấu tranh, quyết định cởi trói cho A Phủ và cho chính mình.

Hai người đã cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, để tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. Từ đây, có thể nói  A Phủ và Mỵ lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, giải phóng bản làng quê hương. Hình ảnh nhân vật A Phủ cùng Mị trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra, giác ngộ được chân lý cách mạng là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho khả năng cách mạng lớn lao của người dân miền núi Tây Bắc.

Cùng với M thì có thể thấy  cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của người dân vùng cao Tây Bắc. Từ trong những tăm tối của đau khổ, tủi nhục và chính bằng sức mạnh của chính mình họ đã vươn tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đó có thể nói đó cũng chính là giá trị nhân đạo mới mẻ và sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này.