Home / Văn mẫu THCS / Văn lớp 9 / Thuyết minh về Nguyễn Du và Truyện Kiều – văn lớp 9

Thuyết minh về Nguyễn Du và Truyện Kiều – văn lớp 9

Đề bài: Thuyết minh về Nguyễn Du và Truyện Kiều. (Văn lớp 9)

Bài làm

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hóa thế giới. Ông là một nhà thơ nhân đạo với tấm lòng sâu sắc, bao dung đồng thời ông đã tài tinh trong việc dùng ngòi bút của mình để phê phán hiện thực mạnh mẽ, sâu sắc. Những tác phẩm của ông là thành tựu rực rỡ về chữ Hán, chữ Nôm của dân tộc. Truyện Kiều là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông.

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh 3/1/1766 tại Bích Câu – Thăng Long. Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê chúa Trịnh. Ông sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đầy biến động của lịch sử xã hội, chính những yếu tố đó đã tạo nên một con người Nguyễn Du đầy hào kiệt.

Cuộc đời ông trải qua nhiều biến động. Năm 1774 cha Nguyễn Du được phong chức Tể tướng và đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1775 anh trai cùng mẹ là Nguyễn Trụ qua đời, năm 1776 thì cha Nguyễn Du qua đời đến năm 1778 Trần Thị Tần – mẹ Nguyễn Du cũng qua đời. Người anh cả của Nguyễn Du là Nguyễn Khản đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và giam tại nhà giam Quận công. Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm nuôi ăn học. Năm 1783 ông đỗ Tú Tài, sau đó giữ nhiều chức vụ trong triều đình. Năm 1820 Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanhh báo tang và cầu phong nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh dịch qua đời năm 54 tuổi.

thuyet-minh-ve-nguyen-du-va-truyen-kieu
Thuyết minh về Nguyễn Du và Truyện Kiều

Nguyễn Du là nhân vật xuất chúng trong thời đại lúc bấy giờ đến năm 1965 ông được Hội đồng hòa bình thế giới của UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và quyết định kỷ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông.

Trước cuộc đời và số phận của mình, Nguyễn Du có những thương cảm sâu sắc, điều đó được thể hiện qua những áng văn chương của ông qua các thời kỳ.

Thơ chữ Hán: Nguyễn Du có 3 tập thơ: Thanh Hiên thi tập gồm: 78 bài làm lúc ông đang sống lẩn tránh ở quê vợ và quê nhà Nghi Xuân (1786 – 1804). Nam trung tạp ngâm gồm: 40 bài là tập thơ sáng tác lúc ra làm quan với triều Nguyễn (1805 – 1813). Bắc hành tạp lục gồm: 132 bài làm lúc phụng mệnh vua dẫn đầu đoàn đi sứ Trung Quốc (1813 – 1814), tổng cộng 250 bài. Thơ chữ Hán có những kiệt tác như: Đọc Tiểu Thanh kí, Bài ca những điều trông thấy (Sở kiến hành), Bài ca người gảy đàn đất Long Thành (Long Thành cầm giả ca), Người hát rong ở Thái Bình (Thái Bình mại ca giả), Chống lại bài “ Chiêu hồn” (Phản “chiêu hồn”)…

Thơ chữ Nôm: Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) gồm 3254 câu thơ lục bát và Văn tế thập loại chúng sinh gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát. Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài vè Thác lời trai phường nón.

Nói về tác phẩm Truyện Kiều, đây có lẽ là tác phẩm sáng giá nhất trong những tác phẩm của ông. Truyện Kiều ra đời đầu thế kỷ XIX, lúc đầu có tên “Đoạn trường tân thanh” sau này đổi thành Truyện Kiều. Tác phẩm viết dựa trên cuốn tiểu thuyết “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân người Trung Quốc. Cái tài của Nguyễn Du được bộc lộ trong tác phẩm này đó là biến hóa nội dung tiểu thuyết thành một tác phẩm thơ chữ Nôm lục bát và biến hóa đôi chút để phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ.

Truyền Kiều là một tác phẩm xoay quanh nhân vật Thúy Kiều là người con gái có đủ sắc, đủ tài nhưng lại gặp bất hạnh và những nỗi trân truyên trong cuộc đời mình. Khi gia đình gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha, bỏ lại lời nguyện ước trước đó với Kim Trọng. Kiều bị lừa và bán vào lầu xanh được Thúc SInh cứu giúp nhưng nàng lại bị Hoạn Thư ghen tuông, Kiều phải nương náu nơi cửa phật. Vô tình Kiều lại rơi vào tay kẻ xấu, nàng bị bán vào lầu xanh lần thứ hai. Lần này Kiều gặp Từ Hải, chàng đã giúp nàng báo ân báo oán nhưng Từ Hải bị lừa và chàng chết Kiều bị ép gả cho tên thổ quan. Nàng tủi nhục trẫm mình xuống sông Tiền Đường thì được sư Giác Duyên cứu giúp. Trong một lần nhờ duyên em là Thúy Vân hãy đến và bù đắp cho Kim Trọng nhưng sau khi kết hôn Kim Trọng vẫn đi tìm Thúy Kiều. Gia đình nàng đoàn tụ nhưng Kim – Kiều đã chuyển đổi từ tình yêu sang tình bạn.

Giá trị Truyện Kiều được thể hiện trên hai phương diện chủ yếu là giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.

Giá trị nội dung được thể hiện qua giá trị tư tưởng, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều thể hiện tư tưởng về khát vọng tình yêu đôi lứa và ước mơ công lý. Là tiếng kêu đau thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy oan nghiệt. Đồng thời là sự tố cáo một xã hội đen tối, phê bình bức chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Du bằng trái tim chan chứa tình yêu thương của con người. Dường như bao nhiêu nỗi cực khổ của người đàn thời trước đều ập xuống vai nàng. Từ một cô tiểu thư, Kiều trở thành hàng hoá để cho người ta mua bán, rồi bị lừa gạt bị rơi vào lầu xanh tới hai lần, đem thân đi làm lẽ, làm đứa ở, rồi bị đánh đòn, lãng nhục trở thành tội phạm ở công đường, bị sỉ nhục, bị rơi vào cảnh giết chồng, kết thúc là phải tự vẫn. Cuộc đời Thuý Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội phong kiến bất nhân, xã hội ấy làm cho người lương thiện phải tìm đến.

Về giá trị nhân đạo được thể hiện đó là đề cao, trân trọng con người từ ngoại hình phẩm chất, tài năng cho đến ước mơ về tình yêu chân chính. Sự hy sinh tỏng tình yêu của đôi bạn trẻ và những khao khát cháy bỏng về tình yêu của mình nhưng cũng ngậm ngùi, xót xa về số phận bạc mệnh mà ngậm ngùi với những vết thương mà chính xã hội đó gây ra. Tình yêu Kim Kiều – Tinh yêu hồn nhiên trong trắng, nó vượt sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến trong thời điểm chế độ phong kiến suy tàn.

Tác phẩm thành công không thể không kể đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Với các biện pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, thể loại thơ truyền thống của dân tộc với ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện, giàu sức gợi cảm, ẩn dụ, điển cố. Giọng điệu cảm thương sâu sắc trước cuộc đời, số phận của nhân vật.

Nguyễn Du là một nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung qua số phận của nhân vật Kiều. Ông phẫn nộ trước xã hội phong kiến đã đẩy con người ta vào bước đường cùng với bao nhiêu gian truân, vất vả. Nguyễn Du đã có công lớn trong việc đưa ngôn ngữ văn học Tiếng Việt lên trình độ điêu luyện, cổ điển và từ những yếu tố đó ông đã được suy tôn danh hiệu Đại hi hào dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới.