Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính lớp 9 hay nhất (12 Mẫu)

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính bao gồm dàn ý chi tiết, sơ đồ tư duy và những bài văn mẫu hay nhất được thầy cô tuyển chọn từ các bài văn lớp 9 đạt điểm cao sẽ giúp các em cảm nhận rõ hơn về tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, bất chấp mọi khó khăn, hiểm nguy của những người lính lái xe Trường Sơn.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính vừa giúp các em nhớ lại những nội dung đặc sắc của bài thơ vàcòn giúp các em biết cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất, rèn luyện trí tưởng tượng thêm phong phú để kể lại câu chuyện thật sinh động.

bai van phan tich hinh tuong nhung chiec xe khong kinh so 7 427167
Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Đề bài: Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Để hóa thânngười lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính đạt yêu cầu, các em cần sử dụng ngôi kể thứ nhất (tôi), theo tuần tự của bài thơ để phác họa lên sự gắn bó, tiếp sức của tình đồng đội.

Dàn ý Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Dàn ý kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính trong vai người lính – Mẫu 1

1. Mở bài

Đóng vai một người lính lái xe để kể lại câu chuyện.

2. Thân bài

– Kể về những chiếc xe không kính đặc biệt trên chiến trường

  • Hình ảnh chiếc xe độc đáo: xe không kính, không đèn, không có mui xe, thùng xe xước.
  • Nguyên nhân chính là do bom giật, bom rung làm kính vỡ.

=> Sự tàn phá của chiến tranh.

– Nhớ lại những năm tháng chiến đấu trên chiến trường khốc liệt

  • Những khó khăn, gian khổ khi xe không có kính.
  • Cách những người lính đối diện với khó khăn.
  • Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết giữa những người lính lái xe.
  • Mục đích, lí tưởng chiến đấu cao đẹp của những người lính.

3. Kết bài

Nêu cảm xúc, suy tư về năm tháng gian khó ở chiến trường.

Dàn ý kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính trong vai người lính – Mẫu 2

1. Mở bài

– Giới thiệu bản thân: Tôi là người lính Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ.

– Công việc chính của tôi là lái những chiếc xe được phủ cành cây để ngụy trang kẻ địch.

– Dù cho những năm tháng ấy rất vất vả, cực khổ, chạy xe xuyên đêm ngày. Ngày chạy xe, đêm cũng ngủ tại xe, những chiếc xe không kính ấy trở thành những người tri âm tri kỷ đồng hành cùng tôi trên chặng đường chiến đấu còn nhiều gian khổ.

2. Thân bài

– Trong những năm tháng ấy, bom đạn của bọn Mỹ có sức công phá quá ghê gớm nên hầu như chiếc xe nào của binh đoàn cũng rụng và vỡ hết kính. Nếu như còn sót lại thì cũng chỉ là những mảnh kính vỡ. Cửa giờ toang hoác nên thiên nhiên như ùa vào để những người lính như chúng tôi tận hưởng vậy. Dù có nguy hiểm, vất vả nhưng chúng tôi vẫn ung dung quả cảm, vẫn hàng ngày lái những chiếc xe tiếp tế ra chiến trường vì tổ quốc thân yêu.

– Từ những ô cửa kính vỡ, chúng tôi được tận hưởng những cơn gió bụi làm mắt cay, ngắm sao trời và những cánh chim bay vụt qua. Đời lính gắn liền với những con đường dài rộng trước mặt, chúng tôi chạy trên những con đường ấy với niềm tin và sứ mệnh giải phóng tổ quốc.

– Nói đời lính có những kỷ niệm đẹp chẳng bao giờ sai, khi những cơn bụi trắng xóa làm chúng tôi bạc trắng cả mái đầu hay những cơn mưa xối xả qua cửa kính vỡ chẳng làm chúng tôi khó chịu hay bất an. Không những vậy, chúng tôi còn trêu nhau là những người già, tiếp tục chặng hành trình của mình.

– Dù cho có mưa bom bão đạn hiểm nguy, qua những cửa kính vỡ tưởng chừng thêm phần khó khăn ấy, chúng tôi lại có thể dễ dàng bắt tay với những người đồng chí trong tiểu đội, Sống trong tập thể cùng chiến đấu, cùng sinh sống, chúng tôi yêu thương và đoàn kết với nhau.

– Bếp Hoàng Cầm- biểu tượng của bếp dã chiến, nấu ăn không khói để kẻ thù không phát hiện. Chúng tôi sum họp như gia đình bên bếp Hoàng Cầm để nói chuyện, ăn uống.

– Dù cho có muôn trùng khó khăn, chúng tôi vẫn luôn đồng hành cùng nhau trên những chiếc xe không kính để giải phóng dân tộc

3. Kết bài

– Cảm nghĩ tổng quát của người lính về chiến tranh ngày nay

Sơ đồ tư duy Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

so do tu duy dong vai nguoi linh trong bai tho ve tieu doi xe khong kinh 1 1
Sơ đồ tư duy Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

20 Bài mẫu Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn nhất

Tiểu đội xe vận tải của tôi có đặc điểm chung là không chiếc xe nào có kính. Qua bao trận mưa bom trên đường chở hàng ra tiền tuyến, kính xe đã vỡ hết cả. Cánh lái xe chúng tôi vẫn ung dung ngồi trong buồng lái, thoả thích nhìn đất, nhìn trời và nhìn thẳng con đường hướng vào chiến trường miền Nam đang đánh Mỹ.

Không có kính, gió tha hồ ùa vào buồng lái. Gió thổi làm mắt cay xè nhưng chẳng hề chi, chúng tôi vẫn nhìn rõ con đường đất đỏ như son như đang chạy thẳng vào tim. Ban ngày thì những cánh chim rừng, ban đêm thì những vì sao sáng như đột ngột sa vào, ùa vào buồng lái.

Lái xe trên đường Trường Sơn là công việc hết sức khó khăn, nguy hiểm. Trời mưa, ngồi trong xe mà ướt sũng như ngoài trời. Mặc! Chúng tôi vẫn cho xe chạy thêm hàng trăm cây số nữa. Mưa mãi thì cũng phải tạnh. Gió lùa, quần áo sẽ mau khô thôi. Mưa đã cực, nắng cũng chẳng sướng gì hơn. Đất Trường Sơn khô rang dưới cái nắng như nung. Đoàn xe đi qua, bụi đỏ tung mù trời giống cơn lốc cuốn. Quần áo, đầu tóc chúng tôi bụi phun trắng xoá, trông chẳng khác người già. Bụi mặc bụi, xe vẫn cứ chạy. Đến cánh rừng nào đó có suối, có khe, chúng tôi dừng lại rửa mặt, nhìn nhau anh nọ cười anh kia mặt lấm, tiếng cười ha ha vang rộn, trẻ trung, yêu đời biết mấy!

Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, những chiếc xe từ trong bom rơi đã về đây họp thành tiểu đội xe không kính. Trên đường Trường Sơn, chúng tôi gặp nhau, những cái bắt tay thật chặt nồng ấm tình đồng đội, truyền hơi ấm và sức mạnh cho nhau. Tất cả đều thể hiện quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện ý nguyện tha thiết của Bác Hồ – vị Cha già dân tộc, trước lúc Người đi xa.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn

Tôi là người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn – tuyến đường huyết mạch nối liền hai miền Bắc và Nam. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ gian khổ, chúng tôi – những người lính lái xe vẫn giữ vững tay lái để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: vận chuyển lương thực, vũ khí và đạn dược vào chiến trường khốc liệt.

Trên quãng đường Trường Sơn, những chiếc xe vốn nguyên vẹn lại bị bom đạn của kẻ thù hủy diệt, trở thành những chiếc xe không kính. Nhưng chúng tôi – những người lính lái xe vẫn ung dung ngồi trước buông lái. Những chiếc xe không kính còn giúp cho chúng tôi thêm hòa hợp với thiên nhiên hơn. Từ gió trời, con đường đến cánh chim giống như đang ùa vào buồng lái để chào hỏi.

Những chiếc xe không kính khiến cho hành trình thêm khó khăn. Đó là bụi đường làm mái tóc trắng như người già. Chúng tôi chẳng cần rửa, cứ thế phì phèo châm điếu thuốc và nhìn nhau cười vui vẻ. Đó là mưa tuôn, mưa xối giống như đang đứng ở ngoài trời. Chúng tôi chẳng cần thay áo, cứ thế lái xe vài trăm cây số, để gió lùa vào rồi áo cũng sẽ khô.

Những chiếc xe không kính đã họp thành một tiểu đội xe không kính. Chúng tôi gặp gỡ trên hành trình ấy. Tất cả giống như những người bạn lâu ngày không gặp, bắt tay nhau và mỉm cười chào hỏi. Rồi đến khi đêm về, dựng bếp Hoàng Cầm giữa trời. Cùng nhau ăn uống, cùng nhau trò chuyện giống như một đại gia đình. Tình cảm đồng đội giữa những người lính lái xe cũng giống như tình thân – sâu sắc và thắm thiết.

Dù những bộ phận quan trọng nhất của chiếc xe đều bị phá hủy. Xe không có kính, không có cả mui xe và hỏng cả đèn xe. Nhưng những chiếc xe vẫn cứ băng băng trên khắp mọi nẻo đường Trường Sơn. Bởi vì trong xe có một “một trái tim” – trái tim yêu đời với nhiệt huyết cách mạng của người lính lái xe. Hình ảnh “một trái tim” tượng trưng cho lòng căm thù giặc sâu sắc của chúng tôi. Đồng thời nó còn là biểu tượng cho nhiệt huyết cách mạng, lòng trung thành với Đảng và tình yêu nước sâu đậm của người lính.

dong vai nguoi linh ke lai bai tho ve tieu doi xe khong kinh 678x381 1
Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 1

Hôm nay tôi có dịp cùng đồng đội cũ về thăm chiến trường cũ. Kí ức những năm đỏ lửa 1968 như ùa về trong tâm trí tôi. Đồng đội tôi người còn sống, người mãi nằm lại chiến trường. Một cơn gió lùa qua tôi, mang theo câu chuyện về những tháng ngày gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc.

Vào những năm tháng chiến đấu chống Mỹ ác liệt, khi cả nước hướng về miền Nam ruột thịt. Chúng tôi là lớp thanh niên, tạm gác bút vở sang một bên, nộp đơn xin nhập ngũ. Quyết không để miền Nam đơn độc trong trận chiến này, tôi đã vào chiến trường, mong muốn đóng góp công sức cùng cả dân tộc ” đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.

Vào chiến trường, mỗi người một nhiệm vụ phục vụ cho kháng chiến. Tôi là chiến sĩ lái xe, nhiệm vụ chính là đảm bảo người, vũ khí và chi viện từ Miền Bắc vào chiến trường. Hằng ngày, trên chiếc xe của mình, tôi rong ruổi trên khắp chiến trường Miền Nam, chi viện thuốc men, quân tư trang đến những địa điểm cần thiết.

Những năm tháng ác liệt 1968. Mỹ như trút bom xuống Trường Sơn, muốn dập tắt tinh thần chiến đấu của cả dân tộc. Thế nhưng bom Mỹ có đội xuống thế nào, cả dân tộc cũng không nao lòng. Chúng tôi bên chiếc xe của mình, một chiếc xe vô cùng ” đặc biệt” đảm bảo giao nhận hàng hóa kịp phục vụ chiến trường.

Dưới sức ép của bom, hàng loạt kính xe của tôi bị vỡ hết. Dù nhiều lần được thay kính mới, nhưng chỉ vài ngày lại bị bom Mỹ giật rung cho bể hết kính. Cánh lái xe chúng tôi cũng không thiết thay kính mới thêm lần nào nữa. Ấy thế mà kính vỡ cũng có cái hay của nó nhé!

Ngồi trong buồng lái, tôi cảm nhận từng cơn gió lùa vào, xua đi những cơn mỏi mệt, buồn ngủ đang hiện hữu. Con đường hằng ngày mà tôi cùng đồng đội đang đi, tuy có bị bom Mỹ tàn phá dữ dội. Thế nhưng tôi không hề nao núng, bởi lẽ con đường ấy còn là lý tưởng cách mạng, là con đường chính nghĩa cho hòa bình dân tộc.

Ban đêm, cánh lái xe chúng tôi lấy sao trời soi sáng, bánh xe vẫn lăn đều trong đêm. Thật ra một phần chúng tôi cũng không dám mở đèn nhiều, vì sợ tụi Mỹ sẽ thấy mà thả bom. Điều kiện khắc nghiệt là thế, nhưng chúng tôi không bao giờ bỏ cuộc hay kêu ca.

Có những hôm trời nắng, đường khô gió bụi bay vào cay cả mắt, lúc bước xuống xe quần áo, mặt mũi đều đầy bụi. Những hôm mưa rừng xối xả, ngồi trong xe mà vẫn ướt như thường. Cái lạnh của rừng Trường Sơn có đôi lúc như muốn quật ngã chúng tôi.

Cái lạnh thấm vào quần áo, da thịt, lạnh đến run người. Thế nhưng chúng tôi vẫn không quan tâm, quần áo ướt đã có gió hong khô. Cánh lái xe chúng tôi đã quá quen với cuộc sống vất vả và khắc nghiệt này.

Thế nhưng, vì Miền Nam vì hòa bình dân tộc chúng tôi đã có những lúc ” cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”, “cái nhành cây gạt mối riêng tư”. Những nỗi nhớ thương, mong nhớ đều dằn lòng lại. Tuy ở đây chỉ có núi rừng, chuyến xe vào ra liên tục, thế nhưng tình đồng đội đồng chí của chúng tôi vẫn luôn gắn bó.

Công việc liên tục, xe chạy ngày đêm để kịp chi viện cho Miền Nam, cánh lái xe chúng tôi chỉ có thể chào nhau bằng cái bắt tay vội vàng qua ô cửa xe đã vỡ. Cái bắt tay như tiếp thêm sức mạnh, nhưng đôi lúc cũng là cái bắt tay cuối cùng. Chiến tranh mà, cái chết luôn nằm ở trên đầu, nhưng chúng tôi vẫn không hề nao lòng.

với cánh lái xe chúng tôi, niềm vui là khi hàng hóa giao đến nơi an toàn. Từ trong bom đạn, nhìn thấy đồng đội của mình vẫn nguyên vẹn, cùng ngồi với nhau bên bếp Hoàng Cầm. Bữa ăn của lính tuy đạm bạc, đơn sơ nhưng đầy tình cảm.

Chúng tôi ngồi lại kể chuyện nhau nghe, kể về bức thư nhà, ruộng đồng, mùa vụ. Kể về những con đường đã đi qua, những vất vả khó khăn mà chúng tôi gặp phải. Rồi chúng tôi cùng nuôi lớn hy vọng về hòa bình, độc lập vào một ngày gần nhất. Chiếc võng mắc vội nằm ngả lưng bên bìa rừng, tôi tranh thủ chợp mắt cho chuyến xe sắp tới.

Tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu như những đồng đội khác. Những lái xe chúng tôi vẫn đóng góp công sức và có lúc cả tính mạng. Không biết bao nhiêu đồng đội của tôi đã nằm lại trên con đường huyết mạch Trường Sơn. Thế nhưng, chuyến xe chi viện cho Miền Nam không khi nào bị đứt mạch. Bởi lẽ những chuyến hàng là cả niềm tin và sức mạnh mà đồng bào Miền Bắc gửi gắm cho chiến trường Miền Nam.

Chiếc xe cho dù không thùng, không kính, bị bom Mỹ làm cho méo mó. Thế nhưng cũng thể nào làm suy dời ý chí của chúng tôi. Chiếc xe của chúng tôi vẫn luôn chạy vì Miền Nam phía trước và cũng vì trong xe vẫn có ” một trái tim”.

Chiến tranh đã lùi xa, ngày hôm nay tôi cùng đồng đội của mình tìm về chiến trường xưa. Những chiếc xe năm nào đã nằm yên trong viện bảo tàng, tiểu đội xe không kính năm nào người còn, kẻ nằm mãi nơi Trường Sơn. Tôi cùng đồng đội xưa vẫn không thể nào quên năm tháng gian khổ nhưng hào hùng ấy. Tôi luôn mong muốn lớp thanh niên ngày nay, luôn tiếp bước và thắp sáng con đường mà lớp cha anh đã ngã xuống đẻ gìn giữ.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 2

“Cuộc sống chiến đấu thật gian khổ ác liệt. Năm đó, tôi cùng anh em đồng đội lái xe trên những tuyến đường Trường Sơn bị giặc Mĩ tàn phá nặng nề nhưng các đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Những chuyến xe chở lương thực, đạn dược đó có thể quyết định đến trận đánh của chúng ta. Nếu không có những chuyến xe đó thì rất nhiều người lính sẽ phải bỏ mạng nơi chiến trường Trường Sơn này vì căn bệnh sốt rét quái ác. Rồi tôi có nói rằng hình ảnh gây ấn tượng nhất cho chú thời đó là hình ảnh những chiếc xe không kính. Ngay cả xe tôi lái cũng vậy, vì bom đạn của Mĩ rơi xuống như mưa nên đã khiến nhiều chiếc xe bị vỡ kính, vỡ đèn,…. Chẳng có chiếc xe nào là không bị trầy xước bởi bom đạn. Ngồi trong buồng lái, tôi cảm nhận từng cơn gió lùa vào, xua đi những cơn mỏi mệt, buồn ngủ đang hiện hữu. Con đường hằng ngày mà tôi cùng đồng đội đang đi, tuy có bị bom Mỹ tàn phá dữ dội. Thế nhưng tôi không hề nao núng, bởi lẽ con đường ấy còn là lý tưởng cách mạng, là con đường chính nghĩa cho hòa bình dân tộc.

Chính nhờ xe không có kính mà chúng tôi có thể nhìn thấy những cánh chim hiếm hoi ở nơi đây. Thỉnh thoảng có những cơn gió ùa vào buồng lái. Đôi lúc vào buổi đêm, chúng tôi ngồi nghỉ trong xe, mắt hướng lên bầu trời kia nhìn thấy những ngôi sao kia. Chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Tôi hiểu rằng anh em tôi không cô đơn như những ngôi sao kia. Cũng nhờ xe không có kính mà cả một không gian rộng rãi, khoáng đạt đang ở ngay trước mắt tôi. Tôi nhìn thấy và cảm nhận được con đường xa dài tít tắp như chạy thẳng vào trái tim chính mình. Tâm hồn chúng tôi thật vui phơi phới như câu “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Công việc liên tục, xe chạy ngày đêm để kịp chi viện cho Miền Nam, cánh lái xe chúng tôi chỉ có thể chào nhau bằng cái bắt tay vội vàng qua ô cửa xe đã vỡ. Cái bắt tay như tiếp thêm sức mạnh, nhưng đôi lúc cũng là cái bắt tay cuối cùng. Chiến tranh mà, cái chết luôn nằm ở trên đầu, nhưng chúng tôi vẫn không hề nao lòng. Tất cả như có sự hội tụ trở thành gia đình, họp thành tiểu đội quây quần bên bếp lửa Hoàng Cầm, cùng ăn bữa cơm ấm cúng biết bao. Qua những tình cảnh gian khổ đó anh em tôi đã trở thành tri kỉ, là bạn thân, tâm giao của nhau. Những cuộc dừng chân giữa rừng kết nối biết bao trái tim. Dù ở những đơn vị khác nhau, từ nhiều vùng quê của đất nước, nhưng gặp nhau ở đây, chúng bếp lửa hồng, chung bữa cơm vui thì chúng tôi xem nhau là anh em đồng chí cả.

Đường Trường Sơn được xây dựng bằng sức người, bằng đôi bàn tay của hàng vạn thanh niên yêu nước. Trên núi cao, dưới vực thẳm thách thức mọi tinh thần. Chiến tranh là phải có hy sinh. Chúng tôi đã xác định điều mỗi khi lên đường. Người đồng đội thân nhất, đã cùng tôi vào sinh ra tử bao nhiêu trận đã hy sinh. Anh ra đi như một người lính thật sự, không hề hối tiếc.

Càng kể tôi càng thấy yêu đồng đội mình hơn, bom đạn của Mỹ có thể hạ xuống trong lúc chúng tôi đang làm nhiệm vụ. Chiếc xe không chỉ mất kính, mà lại còn không có đèn, thùng xe thì rách xước nhưng những thiếu thốn này vẫn chẳng thể cản được chúng tôi tiến tới miền Nam ruột thịt. Và những chuyến hàng của tôi cũng đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc.

Giờ đây chiến tranh đã kết thúc, chúng tôi cũng đã lớn tuổi nhưng kỷ niệm thời niên thiếu về những lần xông pha trên chiến trường sẽ không bao giờ xóa nhòa trong lòng tôi, cũng như mọi người. Những kỷ niệm chúng tôi ngồi kể chuyện, ca hát với nhau về niềm tin chiến thắng của đất nước. Tất cả như một câu chuyện mà tôi không bao giờ kể hết được nhưng nó sẽ chẳng bao giờ có thể mất được.

nhan xet ve bai tho tieu doi xe khong kinh cua pham tien duat 600x406 1
Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính lớp 9 hay nhất

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 3

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”​

Nhắc đến con đường Trường Sơn là nhắc đến biết bao sự hy sinh mất mát. Trường Sơn đâu chỉ mang trong mình bao sự thương đau mà còn là nơi ghi dấu hình ảnh tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Và chúng tôi là những người lính lái xe hồn nhiên, gan dạ với tư thế sẵn sàng chiến đấu vì lí tưởng giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

Như các bạn đã biết, năm 1969, trong lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Chúng tôi những chàng trai tuổi mười tám đôi mươi tạm xa mái trường, xa gia đình sẵn sàng nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc lên đường nhận nhiệm lái xe trên tuyến đường Trường Sơn lịch sử.

Dưới làn mưa bom bão đạn của kẻ thù, sức mạnh tàn phá luôn luôn dội xuống con đường. Những chiếc xe đã không còn kính, đó là do sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi vẫn trong tư thế bình tĩnh, tự tin. Làn mưa bom bão đạn khốc liệt của chiến tranh và những thiếu thốn gian khổ của đời lính không hề mảy may đến tinh thần của chúng tôi. Bởi chúng tôi trong tư thế sẵn sàng, chủ động chỉ biết tiến về phía trước vì miền Nam đang vẫy gọi. Chúng tôi nhìn thẳng về phía trước như nhìn thẳng vào gian khổ, nhìn thẳng vào sự hy sinh mà không hề một chút nao núng với ý chí quyết tâm cao.​

Những chiếc xe không còn kính, người lính lái xe chúng tôi như trực diện với thế giới bên ngoài, ấn tượng thực đến từng chi tiết nên cả gió, con đường, bầu trời và cả cánh chim như sa như ùa vào buồng lái. Đường ra trận gian nguy nhưng tâm hồn chiến sĩ vẫn đẹp. Bởi một ánh sao đêm, một cánh chim cũng đủ làm chúng tôi làm chúng tôi xao xuyến. Cho dù gian khổ hiểm nguy nhưng đồng đội tôi vẫn lãng mạn yêu đời, yêu thiên nhiên. Chiếc xe không kính đã cho chúng tôi những trải nghiệm đầy đủ trên con đường Trường Sơn huyền thoại.

Dưới làn bom đạn, cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào song chúng tôi không hề nhụt chí, sẵn sàng đón nhận với một thái độ bất chấp. Bụi đường mù mịt, những cơn mưa dai dẳng của Trường Sơn, những thiếu thốn vật chất không hề ảnh hưởng đến tinh thần của chúng tôi. Một nụ cười lạc quan yêu đời trên gương mặt bám bụi đường. Chúng tôi sẵn sàng chủ động chấp nhận tất cả:​

“Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn Tây”​

Phải chăng giữa sống chết ác liệt của chiến tranh con người cần có một cách nghĩ nhẹ nhàng như vậy? Bụi phun lấm mặt hay mưa tuôn ướt áo nào có hề chi. Chưa cần rửa, chưa cần thay vì tiền tuyến đang réo gọi. Trong bao gian khó hiểm nguy làm cho tình đồng đội của chúng tôi gắn bó sâu sắc hơn.​

“Trường Sơn đóng nắng tây mưa​

Ai chưa đến đó như chưa biết mình”

Từ trong bom đạn hiểm nguy, những con người ở bốn phương trời gặp nhau thành bè bạn, vật lộn với bao gian khổ, thiếu thốn nhưng chúng tôi vẫn bừng lên quan qua cái bắt tay chất chứa bao tình ý, chúng tôi muốn truyền cho nhau sức mạnh, niềm tin với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Cái bắt tay thay cho lời nói, đó là cái tinh rất sâu đậm của người lính lái.

Đối với người lính lái xe, tình đồng đội cũng chính là tình cảm anh em ruột thịt trong một đại gia đình. Bếp lửa như tín hiệu gọi nhau về sum họp. Càng đi niềm tin chiến thắng lại gần. Chính tình đồng đội đã giúp những người lính chúng tôi thắp lên trong mình ngọn lửa của niềm tin và hy vọng. Miền Nam sẽ được giải phóng, đất nước mình sẽ được độc lập.

Trên hành trình vượt Trường Sơn băng rừng, lội suối, qua núi, vượt đèo lại thêm bom đạn ác liệt. Những chiếc xe mang đầy thương tích của chiến tranh đã bị biến dạng trơ trội. Nhưng vẫn chạy băng băng trên con đường Trường Sơn với một niềm tự hào, khẳng định dáng đứng và tâm thế của người lính tuổi trẻ và Việt Nam thời chống Mỹ. Tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào ở miền Nam đã khích lệ động viên chúng tôi bất chấp mọi khó khó khăn gian khổ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chúng tôi rất tự hào được cống hiến mùa xuân nhỏ của mình cho mùa xuân lớn của dân tộc. Được góp một phần nhỏ của mình vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đúng với câu nói:

“Đâu cần thanh niên có đâu khó có thanh niên”​

Có thể nói ở mỗi giai đoạn lịch sử, thế hệ trẻ Việt Nam đều mang trong mình những vẻ đẹp riêng. Nếu trong chiến tranh vẻ đẹp là sự quả cảm kiên cường, chấp nhận hi sinh thì trong thời bình vẻ đẹp là khát vọng cống hiến thầm lặng, sẵn sàng đương đầu với bao khó khăn thử thách. Và trong bất cứ hoàn cảnh nào thì tuổi trẻ Việt Nam đã khẳng định được tinh thần trách nhiệm, cống hiến và sự hi sinh trong suốt chiều dài lịch sử.

“Đoàn giải phóng quân một lần ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về”​

Song dù cuộc chiến đã đi qua 45 năm nhưng kỷ niệm một thời máu lửa sẽ vẫn còn mãi trong trái tim mỗi người lính chúng tôi. Tự hào đã được cống hiến công sức nhỏ bé của mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Biết bao đồng đội đã anh dũng hy sinh, Tổ Quốc sẽ mãi mãi ghi nhớ các anh- những con người sẵn sàng xông pha nơi lửa đạn, những người hùng của thế kỷ 20. Hãy sống một cuộc đời ý nghĩa không chỉ vì bản thân mà còn vì quê hương đất nước nữa nhé!

“Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta

Mà hãy hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay”

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 4

“Một ba lô cây súng trên vai

Người chiến sĩ quen với gian lao”​

Giai điệu bài hát ngân vang, kỷ niệm trong tôi lại ùa về với những ngày đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn gian khổ. Phải chăng tình đồng đội keo sơn là một trong những nguyên nhân góp vào chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu? Cùng tôi dõi theo câu chuyện về anh, người đồng đội thật thà, chất phát mãi không thể quên theo thời gian.

Nhớ lại những ngày đầu gặp gỡ, tôi và anh đã chia sẻ với nhau về hoàn cảnh của mình. Tôi và anh đều là người con của những vùng quê “nước mặn đồng chua” còn làng tôi lại là vùng đất khô cằn “đất cày lên sỏi đá” quanh năm chẳng thể canh tác được. Cuộc sống ở những miền quê nghèo khó, cơ cực, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Khó khăn, lam lũ là thế nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, chúng tôi sẵn sàng để lại những công việc đồng áng còn đang dang dở để lên đường chiến đấu.

Vốn trước lúc nhập ngũ, chúng tôi là người xa lạ, mỗi người ở một phương trời, chẳng hẹn mà quen nhau, trở thành đồng đội của nhau. Cái gặp gỡ tình cờ ấy được xuất phát từ lòng yêu nước và khao khát đánh giặc cứu nước. Ngay từ buổi đầu gặp gỡ của những con người cùng chung cảnh ngộ xuất thân mà sự gắn bó tương đồng trở nên mật thiết hơn nhờ sự gắn bó không thể tách rời như anh em ruột thịt ấy mà chúng tôi cùng hướng đến một nhiệm vụ mà một lí tưởng trong chiến đấu. Tình đồng chí này bền chặt trong sự chan hòa, chia sẻ mọi gian lao cũng như những niềm vui ngoài mặt trận. Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” chúng tôi đã trở thành tri kỉ của nhau.

Để rồi, từ trong tâm khảm của mỗi chúng tôi, bỗng bật thốt lên hai từ “đồng chí”, ngắn gọn mà ngân vang, giản dị thiêng liêng vô cùng. Biểu tượng mà chúng tôi luôn đem theo bên mình chính là cây súng, vũ khí kề vai sát cánh với chúng tôi trên mọi mặt trận, nhiệm vụ đặt trên cây súng ấy chính là mang hòa bình về cho đất nước và sẻ chia những khó khăn cùng đồng đội trên chiến trận. Chính đêm trăng giá rét hôm ấy, anh và tôi dưới sự thiếu thốn và khó khăn mà đã trở thành anh em ruột thịt của nhau. Anh chia sẻ cho tôi chiếc chăn rách vá, hai người đắp chung chăn dưới cái gọi là trời rét buốt giá bỗng ấm cúng lạ thường.

Trên sự thấu hiểu lẫn nhau, tôi biết rằng, anh ra đi để lại bao công việc bộn bề đang còn dang dở: “Ruộng nương” gửi “bạn thân cày”, “gian nhà không” giờ để “mặc kệ gió lung lay”. Anh để lại một mảnh ruộng, một gian nhà chưa kịp lợp lại và cả một hạnh phúc tình yêu chưa trọn vẹn. Lên đường chiến đấu, chúng tôi chấp nhận sự hi sinh, để lại nơi hậu phương bao tình thương nỗi nhớ. Nơi có mẹ già, bao người vợ trẻ và những đứa con thơ đang từng ngày trông ngóng tin con, tin chồng, tin cha trong chờ khắc khoải đợi ngày bình an trở về.

Kiên quyết, dứt khoát trên mục đích đã lựa chọn nhưng dù mạnh mẽ ra đi trong lòng chúng tôi vẫn nặng lòng với quê hương đất tổ. Tâm tư ấy, nỗi nhớ nhung của anh và cũng là của tôi, là đồng chí thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau.

Chúng tôi đã từng trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu hiểm độc, trong hoàn cảnh thiếu thuốc men, lại thêm trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá: Ác rách vai, quần tôi vài mảnh vá, chân không giày. Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến tranh, chúng tôi chia sẻ cho nhau những tình cảm thân thương nhất để truyền cho nhau tinh thần lạc quan của người chiến sĩ. Rồi những cái nắm tay để động viên khích lệ với ý chí quyết chiến quyết thắng, vượt qua tất cả, đẩy lùi gian khổ. Những cái nắm tay đã thay cho lời nói, là một sức mạnh tinh thần trên cơ sở cảm thông và thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau để tạo nên thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng này.

Dưới đêm trăng thanh vắng, anh và tôi, 2 người thủ thỉ trong không gian hoang vắng và lạnh lẽo chờ giặc là một kỷ niệm luôn ngự trị trong trái tim tôi. Không chỉ có cái giá, cái rét đang theo đuổi mà còn bao nguy hiểm xung quanh nơi núi rừng rình rập. Giữa sự sống và cái chết rất mong manh nhưng trên tinh thần chủ động ấy, anh và tôi vẫn đứng hiên ngang chờ giặc, truyền cho nhau hơi ấm để vượt qua cái gian khổ này.

Đêm khuya, trăng trên vòm trời cao đã sà xuống thấp dần, ở một vị trí và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo đầu mũi súng. Toàn cảnh hết sức khốc liệt, chúng tôi vẫn phải lạc quan, yêu đời để tạo động lực cho sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Nhớ lại một thời gian đã qua, giữa bao đau thương tôi lại thấy tự hào. Tự hào vì bao người đồng đội đã quả cảm hu sinh để giải phóng quê hương khỏi ách áp bức thực dân Pháp. Tự hào về bản thân mình cũng được đóng góp một phần nhỏ bé cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Tự hào về bản anh hùng ca mà những người lính chúng tôi đã viết lên bởi lòng dủng cảm, đức hy sinh và ý chí vượt gian khó.

Lúc này đây, tôi lại càng tự hào hơn khi khúc ca khải hoàn này được các chiến sĩ viết trong cơn đại hồng thủy trần về khúc ruột miền Trung trong những ngày tháng 10 của năm 2020. Các anh đã hy sinh trên mặc trận không tiếng súng bởi lòng cao cả, bao dung và tự nguyện ấy. Điều đó đã tô thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lính của người cách mạng Việt Nam dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Đúng như thế!

“Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”​

Cuộc chiến dù đã lùi xa nhưng dư âm của một thời máu lửa vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim tôi. Tôi đã chia sẻ những năm tháng chiến đấu khó khăn, nhớ các anh em đồng đội. Những thành viên gia đình gắn bó trong chuyến đi hành trình dài để mang độc lập về cho Tổ Quốc, cùng nằm xuống trên mảnh đất nơi mình ghi công chiến thắng. May mắn thay tôi vẫn được trở về, trờ về với mái tóc đã bạc sương, những vết thương trên ngực mỗi khi trở lạnh lại nhức nhối. Nhưng đó chính là một phần dấu ấn trong cuộc đời tôi, cảm ơn người mẹ, người vợ và các con đã chờ tôi trở về.

Với những chia sẻ chân thành trong trái tim người lính, tôi mong rằng thế hệ trẻ ngày nay hiểu được khát vọng độc lập tự do của thế hệ cha anh. Biết kế thừa và tiếp nối lý tưởng cao đẹp ấy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày càng giàu đẹp hơn.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 5

Trong buổi họp mặt nhân ngày quân đội nhân dân Việt Nam, tôi đã tình cờ gặp lại người bạn xưa cùng chung tiểu đội trên những chiếc xe không kính ở tuyến đường Trường Sơn làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho miền Nam. Chúng tôi tay bắt mặt mừng và mọi người yêu cầu tôi kể lại những ngày tháng ấy.

Tôi còn nhớ trên con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc mà chúng tôi lái trên những chiếc xe lại là nơi bom đạn giật tung dữ dội ác liệt. Nhiệm vụ của tôi là vận chuyển lương thực, vũ khí, bom đạn của Mỹ đã biến những chiếc xe không còn có kính. Tôi đã thực sự hiểu rõ hơn về những gian lao khổ cực mà chúng tôi đã phải chịu ngày chịu đêm không lùi bước tôi vẫn ung dung lái xe đi tới những chặng đường, luôn nghe âm thanh của bom liên tục gào thét. Trên một chiếc xe không kính, tôi đã nhìn thấy được trời, nhìn thấy cả đất và những ánh sao đêm. Tôi nhìn thẳng về phía trước, vì phía ấy chính là tương lai của đất nước, là miền nam ruột thịt quê hương tôi.

Tôi vẫn lái dù bụi có phun làm mái tóc trở nên trắng xóa, chúng tôi vẫn vô tư phì phèo điếu thuốc và cất tiếng cười khi nhìn mặt nhau. Khó khăn gian khổ hay bom đạn của kẻ thù chẳng thể nào làm tôi nản chí, sờn lòng. Những chiếc xe không kính cứ tiếp tục đi và đi trên những tuyến đường ra trận, mưa tuôn mưa xối ướt hết cả áo nhưng tôi vẫn cố gắng lái trăm cây số nữa vượt qua những chặng đường nguy hiểm để đảm bảo an toàn cho mọi thứ tôi đang vận chuyển. Và tôi nghĩ khi mưa ngừng, có gió lùa vào rồi thì sẽ mau khô thôi.

Càng đi càng đi, tôi càng gặp được nhiều anh em đồng đội của mình dù bom đạn của Mỹ vẫn giật tung sát bên tai. Cái chết luôn rình rập nhưng tôi vẫn luôn lạc quan yêu đời. Ngày ấy cũng có người hy sinh, nên vì vậy, khi tôi gặp lại người bạn năm xưa thì mọi kí ức kỉ niệm chợt ùa về khiến tôi say mê kể lại.

Những giây phút hiếm hoi khi gặp lại đồng đội, cái bắt tay qua cửa kính bể rồi làm tôi thắm thiết hơn. Những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm, mọi cái bát cái đũa dùng chung như một đại gia đình lớn của những người lính lái xe Trường Sơn. Rồi giây phút được nghỉ ngơi trên những chiếc võng mắc chông chênh ngoài đường, kể nhau nghe mọi sự ác liệt trên những con đường đã đi qua. Càng kể tôi càng thấy yêu đồng đội mình hơn, bom đạn của Mỹ có thể hạ xuống trong lúc chúng tôi đang làm nhiệm vụ. Chiếc xe không chỉ mất kính, mà lại còn không có đèn, thùng xe thì rách xước nhưng những thiếu thốn này vẫn chẳng thể cản được chúng tôi tiến tới miền Nam ruột thịt. Và những chuyến hàng của tôi cũng đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc.

Đến bây giờ tôi vẫn còn rất tự hào vì đã lái những chiếc xe không kính làm nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, góp phần không nhỏ vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tôi vẫn không quên nhắc nhở con cháu của mình là phải biết ơn các thế hệ trước, phải luôn tưởng nhớ những con người đã hi sinh “Uống nước nhớ nguồn”.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 6

Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.

Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:

– Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ.Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ!

Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi cuống quýt:

– Bố ơi! Bác ơi! Con có thể được ngồi với bố và bác một lát để biết thêm về những ngày tháng chiến đấu năm xưa được không ạ?

Bác cười và đáp:

– Sao lại không? Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của bố cháu và bác.

– Thưa bác, bác chính là người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, người lính mà cháu đã được học trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, phải không bác?

– Ồ, bài thơ ấy nổi tiếng lắm cháu à. Ngày đó, có lẽ lính lái xe Trường Sơn ít ai là không biết bài thơ ấy. Nó nói hộ phần nào khát vọng chiến đấu, những gian khổ, lòng dũng cảm và sự lạc quan của những người lính như bác.

– Chính bác cũng đã từng lái những chiếc xe không kính ấy phải không ạ?

– Không phải “đã từng” đâu cháu ạ. Mà là bác luôn lái những chiếc xe bị xước, bị va đập, bị bom đạn làm cho rơi vỡ, méo mó những bộ phận bên ngoài như thế. Chiến tranh mà cháu!

Để bác kể rõ hơn cho cháu hiểu nhé. Ngày đó, bác lái xe tải, cùng đồng đội chuyên chở lương thực, thuốc men, khí tài… vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, gian khổ lắm cháu ạ. Nhất là những đoạn đường xuyên qua dãy Trường Sơn, giặc bắn phá rất dữ dội. Chúng muốn san phẳng tất cả, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền Bắc Nam ấy. Tiểu đội xe của bác ban đầu được trang bị toàn xe mới để phục vụ mặt trận. Lúc đó, xe có kính như muôn vàn chiếc xe khác. Nhưng ngày nào xe cũng lao đi giữa bom gầm, đạn nổ khiến kính rạn vỡ, mất dần hết cả. Rồi cả mui xe cũng bị đạn pháo cày hất tung lên. Thùng xe va quẹt nhiều cũng chằng chịt vết xước. Chẳng còn chiếc xe nào còn nguyên vẹn cháu à.

Tôi vẫn còn tò mò, tiếp tục hỏi bố:

– Lái xe không kính, không mui, không đèn như thế chắc nguy hiểm lắm bác nhỉ?

Bác sôi nổi tiếp lời:

– Nguy hiểm lắm, cái sống cái chết lúc nào cũng trong gang tấc. Lái xe không kính thì mối nguy hiểm gần nhất là bụi đất. Đường Trường Sơn mùa khô bụi cuốn mù trời sau làn xe chạy. Bụi cuốn vào mặt, vào quần áo. Bụi dày đặc đến mức mắt cay xè, không thể mở nổi. Lúc ấy, râu, tóc, quần áo và cả xe rực lên một màu đất đỏ Trường Sơn. Rồi cả mưa nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là cành cây gãy… Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô cùng. Gian khổ là thế đấy cháu. Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích. Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện.

Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng.

Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng. Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:

– Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương.

Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:

– Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng.

Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.

Trong tôi bỗng trào dâng một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa khâm phục, vừa tự hào. Ngày hôm nay tôi đã hiểu thêm rất nhiều điều. Trước đây, tôi chỉ biết đến cuộc sống êm đềm trong vòng tay ấm áp, chở che của gia đình, thầy cô trong một đất nước hòa bình. Đó là thành quả của bao thế hệ cha anh đã vất vả, hy sinh. Họ chính là bố tôi, bác tôi và những người tôi chưa từng gặp mặt. Tôi phải thật trân trọng cuộc sống hòa bình này và cố gắng trau dồi, hoàn thiện để góp phần xây dựng đất nước thêm tươi đẹp trong thời đại mới.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 7

Tôi gia nhập quân đội năm 1964, là một người lính lái xe hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn. Thời kì đó nước ta đang kháng chiến chống Mĩ, gian khổ có, hiểm nguy có nhưng chúng tôi cùng những chiếc xe không kính vẫn luôn lạc quan yêu đời và phơi phới niềm tin chiến thắng.

Những chiếc xe của chúng tôi được cài cắm cành lá ngụy trang cẩn thận nhưng tiếc là chúng vẫn bị tàn phá tới nỗi không có tấm kính trước buồng lái. Vốn dĩ xe nào mà chẳng có kính nhưng sự ác liệt ở nơi chiến trường, bom giật, bom rung kính cũng phải vỡ, chẳng chiếc xe nào lành lặn nổi. Cái không vỡ kính thì cũng hỏng đèn, cái không hỏng đèn thì cũng chẳng có mui xe, chằng chịt vết xước. Chiến tranh chính là như thế đấy, nó có sức phá hủy đến khủng khiếp.

Không có kính thì chúng tôi – những người lính phải đối diện với biết bao khó khăn. Khi thì gió thổi cay mắt, ôm thì bụi ào ào xông tới, đứa nào đứa nấy mặt mũi lấm láp, nhem nhuốc. Và thế là chúng tôi gọi đùa nhau là lũ người già. Rồi hôm trời tạnh ráo thì chẳng sao, phải hôm trời mưa, ngồi trong xe cũng có khác ngoài trời là bao. Còn nhớ anh Duật khoa văn xuất khẩu thành thơ:

“Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời”

Rồi cả lũ cứ cười ha ha. Bụi ư? Mưa à? Chúng tôi chẳng quản khó khăn, nhọc nhằn nơi chiến trường. Không có kính cũng có cái hay, ngồi vào buồng lái thoáng đãng, ung dung vừa lái xe vừa ngắm trời ngắm đất, ngắm một cách trực tiếp chân thực nhất. Còn gì tuyệt hơn khi được hòa mình vào thiên nhiên, đất trời. Chẳng bận tâm mưa gió hay nắng cháy, chúng tôi chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ. Dẫu trời có mưa to, gió lớn thì cùng lắm ướt áo như tắm mưa, cũng chẳng cần thay vì ngồi buồng lái chạy thêm trăm cây số gió lùa vào chẳng mấy mà khô.

Những chiếc xe không kính đã tập hợp thành tiểu đội, anh em lái xe trở thành đồng đội của nhau, đi đâu cũng gặp được bạn bè. Chỉ cần một cái bắt tay qua cửa kính vỡ: “Chào đồng chí!” là chúng tôi đã gắn kết với nhau. Thế rồi những lúc nghỉ ngơi, dựng bếp Hoàng Cầm ngay trong rừng, chúng tôi nấu cơm, chung nhau bát đũa, trở thành một gia đình. Mệt quá thì mỗi người một võng mắc lên hai cây cao mà ngủ, chợp mắt một lúc rồi lại bắt đầu đi. Cuộc sống nơi chiến trường là thế, cùng nhau trải qua gian khổ, thiếu thốn, cùng nhau vượt qua mưa bom, bão đạn. Đạn bom có thể phá hủy chiếc xe nhưng không ngăn được bước chân chúng tôi. Còn hơi thở là còn chiến đấu và những chiếc xe vẫn sẽ tiếp tục băng băng trên đường Trường Sơn để vào với miền Nam ruột thịt.

Chính vì tinh thần bất khuất, hiên ngang, kiên cường ấy mà người ta gọi chúng tôi là trái tim của những chiếc xe không kính. Mặc dù thiếu thốn tất cả nhưng chiếc xe không kính vẫn luôn chạy vì cháy tim của nó vẫn sống và tràn đầy nhiệt huyết.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 8

Ngồi trên chiếc ghế đá mát lạnh tôi ngước nhìn khung trời màu xanh biếc, vô tận mà tôi nhớ đến ngày xưa. Những ngày tháng tôi cùng đồng đội ở chiến khu, trên chiếc xe không kính quen thuộc. Tôi hớp một ngụm nướcchè xanhquen thuộc, rồi xoay đầu qua nhìn ông bạn Tâm cũng đang chăm chú nhìn phương xa. Tôi bảo: ” Mới đây nhanh quá ông nhỉ, thoắt đã hơn chục năm rồi.”, ông ấy mỉm cười nói: “Ừ, đúng thế”. Và cả hai cùng ngồi thẫn ra, đều mang vẻ vui buồn lẫn lộn…

Nhớ những tháng ngàynăm 46, thực dân Pháp lại một lần nữa xâm chiếm đất nước, cùng với một quy mô hùng hậu và nhiều loạt vũ khí tối tân thời bấy giờ. Lúc ấy tôi chỉ vừa tròn hai mươi tuổi nhưng vì độc lập đất nước, tôi đã gia nhập đội ngũ bằng cả trái tim của mình dù biết phải xa gia đình để đến chiến khu. Tuy ở chiến khu rất gian nan và khó khăn nhưng ở đấy tôi không hề cô đơn. Vì tôi đã có thêm rất nhiều người anh em, có cùng chí hướng với tôi là giành lại tự do cho đất nước, cho nhân dân và tôi gọi họ là những “đồng chí”. Trong đó có ông bạn vẫn luôn gắn bó với tôi đến bây giờ.

Lúc đầu tôi chưa quen lắm, nhưng dần dần chúng tôi trở nên thân thiết nhiều hơn như bằng hữu lâu năm. Mỗi tối bọn chúng thường ngồi tụ lại với nhau rồi kể chuyện của mình cho những người còn lại nghe. Bỗng có một anh lớn hơn tôi tầm hai, ba tuổi hỏi: “Quê chú ở đâu ra sao?” tôi trả lời: “Em ở một ngôi làng nghèo đất cày lên sỏi đá luôn đó anh.” Nói đến đây tôi chợt nhớ đến ba mẹ chốn quê nhà, không biết mẹ có còn đau chân hay không, ba có đỡ bệnh chưa. Rồi anh ấy lại nói: “Quê hương anh cũng nghèo lắm, nước thì mặn, đồng thì chua. Khổ lắm chú ạ, lúa nó cứ chết hoài.”. Mọi người say sưa ngồi cười cười, nói nói suốt đêm mà không ai hay biết gì hết, cho đến tận trời tờ mờ sáng.

Tôi nhớ những ngày còn ở chiến khu, túp lều của chúng tôi được dựng ở những cánh rừng núi hoang vu nên đêm xuống sương ẩm che phủ khắp mọi nơi. Chúng tôi đã cố gắng san sẻ chăn cho nhau để giữ ấm rồi trở thành những đôi tri kỷ. Nhưng cho dù chúng tôi có chăn đi nữa thì nó vẫn không đủ ấm và có một số người bị bệnh rất nặng. Vì là rừng nên muỗi cũng nhiều đặc biệt là loại muỗi truyền bệnh sốt rét. Bộ đội đã bỏ xác không ít người chỉ do loại bệnh chết người này, đội ngũ dần ít đi. Điều đó khiến những người còn lại trong đó có tôi vô cùng hoảng loạn nếu tình hình này vẫn cứ tiếp tục…

Nhưng chúng tôi, những người yêu quê hương, tổ quốc sẽ không bao giờ gục ngã bởi bất kỳ trở ngại nào. Vì nền độc lập đất nước, không chỉ riêng tôi mà tất cả mọi người đã bỏ qua sự ích kỷ của riêng mình, nỗi sợ hãi cá nhân để xung phong lên đường cứu nước. Nhưng chắc chắn trong lòng mỗi người nhớ luôn đến người thân ơi quê nhà, lo lắng nhà cửa bây giờ có bình yên hay không. Tất cả chúng tôi bỏ lại sau lưng những nỗi nhớ da diết vì đại cuộc, cho dù phải hy sinh.

Trên con đường hành quân, mọi người chúng tôi phải leo lên từng con dốc, băng qua từng dòng suối siết chảy. Chúng tôi cứ đi mãi, đi mãi, từ ngày này qua ngày kia không kể bao nhiêu khó khăn, gian khổ. Mặc cho thời tiết có như thế nào, dù nắng hay mưa, chúng tôi vẫn luôn vượt qua. Đi đến nỗi quần áo của mọi người cũng bạc màu và rách đi vài chỗ. Không chỉ thế, chân chúng tôi cũng đã chai sần vì đi quá nhiều vả lại chúng tôi chẳng có một đôi giày chắc chắn để mang. Tuy thế chúng tôi không màng đến. Đôi lúc khí trời rét lạnh nhưng bên trong chúng tôi vẫn hừng hực lửa, quyết tâm chống chọi lại với sự ghẻ lạnh của thiên nhiên và mỉm cười cùng đồng đội, cùng nắm tay đi qua hết đoạn đường đầy chông gai này.

Ban đêm, khu rừng ngập tràn sương muối lạnh buốt cả hai tay.Xung quanh tối mù mịt, những tán cây cũng trở nên tối đen, chỉ còn ánh trăng óng ánh màu bạc tỏa chiếu khắp nơi. Chúng tôi núp dưới bụi cây to, vai vác trên mình những cây súng thô sơ chờ địch đến rồi chớp lấy thời cơ mà xông lên. Đó là một trận quyết liệt giữa quân dân Việt Nam và bọn thực dân hung ác.

Giờ đây chiến tranh đã kết thúc, chúng tôi cũng đã lớn tuổi nhưng kỷ niệm thời niên thiếu về những lần xông pha trên chiến trường sẽ không bao giờ xóa nhòa trong lòng tôi, cũng như mọi người. Những kỷ niệm chúng tôi ngồi kể chuyện, ca hát với nhau về niềm tin chiến thắng của đất nước. Tất cả như một câu chuyện mà tôi không bao giờ kể hết được nhưng nó sẽ chẳng bao giờ có thể mất được.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 9

Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – ngày 22 tháng 12, để chúng tôi hiểu thêm về lịch sử chiến đấu của dân tộc, nhà trường đã mời đoàn cựu chiến binh về thăm và trò chuyện. Trong đoàn đại biểu đó, tôi bắt gặp một người lính trên ngực gắn nhiều huân chương và trong buổi lễ chú đã giới thiệu mình là người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. Cuối buổi, tôi đã đến gặp và có cuộc nói chuyện thú vị với ông.

Các bạn có lẽ không thể hình dung được, người chiến sĩ lái xe trẻ trung, sôi nổi năm xưa giờ đĩnh đạc, oai nghiêm trong bộ quân phục mới. Ông có giọng nói khoẻ, ấm áp và tiếng cười âm vang. Cùng tháng năm, khuôn mặt tuy đã già dặn nhưng vẫn có vẻ hóm hỉnh, yêu đời của người lính. Qua trò chuyện, có thể thấy ông là người rất vui tính, nhiệt tình, đặc biệt là khi ông kể cho tôi về cuộc đời người lính trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy. Ông kể rằng vào năm 1969 là – năm mà Mỹ đánh phá rất ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn. Đế quốc Mỹ quyết tâm phá cho bằng được tuyến đường huyết mạch nối liền hai miền Nam – Bắc. Chúng thả hàng ngàn tấn bom, cày xới những khung đường, đốt cháy những khu rừng. Hàng nghìn cây đã đổ, muông thú mất chỗ ở. Đã có nhiều người ngã xuống để bảo vệ con đường. Tuy Mỹ đánh phá ác liệt thật, nhưng những đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm nối đuôi nhau trên con đường, đem theo bao lương thực, vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam. Kể một lúc, chú lại mỉm cười và nói với tôi:

– Cháu thấy đấy, trong cuộc chiến đấu chúng ta đã phải trải qua biết bao gian khổ, khó khăn. Những năm tháng ác liệt đó đã khắc hoạ cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta oanh liệt hào hùng. Trên tuyến đường Trường Sơn giặc Mỹ đánh phá vô cùng ác liệt; bom Mỹ cày xới đất đai, phá hỏng những con đường, đốt cháy những cánh rừng, phá huỷ biết bao nhiêu những rừng cây là lá chắn của ta. Nhưng không vì “bom rơi đạn lạc” như vậy mà chúng ta lùi ý chí, các đoàn xe tải ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến, đi trong bóng đêm theo sự hướng dẫn của các cô thanh niên xung phong để tiến về phía trước trong màn đêm sâu thẳm của rừng hoang. Có hôm trời tối Mĩ phát hiện ra, ta chuyên chở qua rừng, bọn chúng đã thả bom để không cho ta qua, phá vỡ chiếc cầu nối Bắc – Nam. Nhưng đặc biệt hơn cả là đoàn xe vận tải không có kính vì bị “bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Bom đạn trải xuống hàng loạt khiến nào là kính, nào là đèn vỡ, mui xe bẹp, nào là thùng xe xước… Không có đèn vượt qua dãy Trường Sơn đầy nguy hiểm như thế mà chúng ta vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh Mỹ, chạy dọc Trường Sơn. Chẳng khác nào “châu chấu đá xe”, Mỹ với bao nhiêu thiết bị tối tân đế đánh ta nhưng chúng ta đã vượt qua những gian khổ để đánh chúng..

Ông dừng lại một lúc rồi lại kể tiếp:

– Ta còn nhớ trên các cabin những chiếc xe như thế, không có vật gì để che chắn cả, gió táp vào mặt mang theo bao nhiêu là bụi. Gió bụi của Trường Sơn làm mắt cay xè, tóc bạc trắng như người già còn mặt thì lấm lem như thằng hề vậy, thế mà không ai cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc hút ngang nhiên, ai nấy nhìn nhau rồi cười giòn giã vang khắp dãy Trường Sơn. Với những ngày nắng là như vậy nhưng đến lúc mưa thì còn khổ hơn, trời mưa như trút nước thế nhưng chúng ta vẫn cầm vô lăng lái một cách hăng hái hàng trăm cây số nữa có đâu cần thay người lái, gió lùa rồi quần áo lại khô thôi. Xe không kính cũng là một thú vị vì ta có thể nhìn cả bầu trời, không gian rộng lớn khoáng đạt như ùa vào buồng lái, những ngôi sao đều nhìn thấy và những cánh chim chạy thẳng vào tim.Mỗi khi giữa rừng, bên bếp Hoàng cầm sưởi ấm bao trái tim người chiến sĩ, chúng ta nghĩ từng chung bát chung đũa tức là một gia đình, là người trong một nhà rồi đấy cháu ạ.

Được nghe ông kể những vất vả ấy tôi thật khâm phục hơn tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm hiên ngang của người chiến sĩ. Tôi thầm mơ ước trên thế giới không còn chiến tranh để cuộc sống mãi thanh bình.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 10

Bước vào năm 1969, cuộc chiến khốc liệt và căng thẳng hơn. Sau thất bại trong chiến lược Chiến tranh cục bộ, quân Mỹ bắt đầu tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Thực hiện chính sách này, Mỹ rút dần quân số trên chiến trường Đông Dương và tăng cường chiêu mộ, bắt bớ người Việt Nam đi lính. Đồng thời, chúng tiến hành các chiến lược bình định trên toàn miền Nam. Một không khí khủng bố vô cùng căng thẳng bao trùm lên khắp miền lãnh thổ. Nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam cũng đối mặt với những khó khăn vô cùng lớn.

Không để miền Nam đơn độc trong cuộc chiến đấu ác liệt với kẻ thù, quân và dân miền Bắc gắng hết sức mình chi viện và cùng quân dân miền Nam anh dũng chiến đấu.

Tôi là một chiến sĩ lái xe. Cuối năm 1968, tôi được điều động về đại đội 1 ô-tô vận tải, thuộc tiểu đoàn 59, trung đoàn 35, Đoàn 471, Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Nhiệm vụ của đại đội là vận chuyển những chuyến hàng vào chiến trường miền Nam. Không những đưa hàng hóa đến tận chiến trường, phục vụ nhanh chóng và kịp thời cho cuộc chiến đấu, chúng tôi còn phải cung ứng quân trang, quân dụng, thuốc men và những thứ cần thiết khác mà quân và dân miền Nam đang cần.

Trong những năm khó khăn ấy, nhân dân miền Bắc đã dốc hết sức mình vì miền Nam ruột thịt. Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước mà bà con miền Bắc đã không quản ngại gian khổ hy sinh. Từng lớp thanh niên đã hăng hái lên đường tham gia chiến đấu. Ngày ra đi còn vẫy chào tạm biệt, hứa xong nhiệm vụ với tổ quốc mới trở về.

Bao nhiêu nông phẩm thu được, nhân dân chỉ giữ lại phần ít. Phần lớn còn lại gửi vào miền Nam cho bà con và các chiến sĩ. Chính phủ còn nhận được sự hỗ trợ của các nước anh em ủng hộ cuộc chiến.

Chúng tôi lên đường bất kể ngày đêm. Hễ có hàng là chúng tôi chạy. Từng đoàn xe nối đuôi nhau xuôi ngược trên tuyến đường Trường Sơn, nhộn nhịp như mùa hội. Tấm chân tình của nhân dân miền Bắc đối với quan và dân miền Nam thật nói sao cũng không hết.

Năm ấy, phát hiện tuyến đường huyết mạch Trường Sơn, quân Mỹ tiến hành đánh phá ác liệt. Chúng rải thảm bom đạn nhằm ngăn chặn dòng tiếp viện. Con đường bị cày xới dữ dội. Rất nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh.

Những chiếc xe băng trong mưa bom bão đạn của kẻ thù không chiếc nào còn nguyên vẹn. Khung cửa kính bị hơi bom ép vỡ. Đèn pha cũng bị cháy. Thùng xe lỗ rỗ vết bom. Mui xe bị đánh bật quang mất từ bao giờ. Sau những chuyến đi trở về, xe của chúng tôi bị biến dạng ghê gớm.

Thế nhưng, chúng tôi không hề nản lòng. Các đồng chí động viên nhắc nhở nhau cùng hứa sẽ giữ vững tay lái, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chúng phá đường thì ta sửa. Chúng đánh ngày thì ta chạy đêm. Những đoàn xe lại nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Tuyến đường Trường Sơn như sợi chỉ thần kí nối liền miền Nam, miền Bắc. Nơi đâu cũng nhộn nhịp bóng người. Có thể nói, mọi sức mạnh đều tập trung về đây để bảo vệ tuyến đường, bảo vệ mạch máu của dân tộc.

Ngồi trong những chiếc xe không kính, cả bầu trời như đến gần với tôi. Dù trời không có gió nhưng hề xe chạy thì gió cứ thế mà lùa vào ào ạt. Gió thổi xoát mặt, cay xè cả hai mắt, thổi bồng mái tóc của chúng tôi. Cứ mỗi lần bước ra khỏi buồng lái là tóc tôi dựng ngược hẳn lên như vừa được bôi một thứ keo dán tóc nào đó.

Ban đêm xe chạy, sao sáng vằng vặc trên trời cao, rõ ràng hết mức vì không bị kính che mờ. Những cánh chim trời tinh nghịch cứ bay ngay buồng lái. Đôi khi chúng làm tôi hết hồn vì ngỡ bóng máy bay của địch.

Sợ nhất là bụi đường. không có kính, bụi phun tóc trắng xóa như người già. Cả đầu tóc lẫn mặt mũi của chúng tôi như trát một lớp phấn trắng. Chỉ còn hai con mắt là khác màu thôi. Mỗi lần nghỉ ngơi, nhìn các chiến sĩ ai cũng bạc phết mà cười ngất ngây.

Hết bụi thì đến mưa. Mưa rừng Trường Sơn đột ngột và dữ dội lắm. Không hề báo trước, cơn mưa từ đâu phía bên kia núi ào ào kéo đến trút nước lên đầu. Không có kính, nước mưa cứ thế mà tuôn, mà xối vào. Ngồi trong xe mà tôi cứ ngỡ đang ở ngoài trời. Nhưng mưa cứ kệ mưa. Xe chạy vẫn cứ chạy. Quần áo ướt rồi lại khô, cần chi phải nghỉ ngơi lôi thôi. Cuộc sống như thế chúng tôi đã quen từ lâu, có chi mà quản ngại gió sương.

Vui nhất là những lần đồng đội khắp muôn phương cùng nhau hội tụ. Những đoàn xe nối đuôi nhau mấy cây số. Chúng tôi bắt tay thân ái qua ô cửa kính vỡ, hỏi han và động viên nhau. Tôi chúc mừng các anh đã hoàn thành nhiệm vụ trở về. Những chiến sĩ trở về động viên và cầu chúc tôi may mắn.

Những cuộc dừng chân giữa rừng kết nối biết bao trái tim. Dù ở những đơn vị khác nhau, từ nhiều vùng quê của đất nước, nhưng gặp nhau ở đây, chúng bếp lửa hồng, chung bữa cơm vui thì chúng tôi xem nhau là anh em đồng chí cả.

Đường Trường Sơn được xây dựng bằng sức người, bằng đôi bàn tay của hàng vạn thanh niên yêu nước. Trên núi cao, dưới vực thẳm thách thức mọi tinh thần. Những con dốc cao đến nỗi đứng dưới nhìn lên mỏi cả cổ. Tôi nhớ rất rõ lần chạy xe xuyên đêm vượt dốc Pô-Phiên vô cùng hiểm trở. Con dốc sừng sững thách thức các đồng chí lái xe đã từng vận chuyển hàng hóa trên cung đường này.

Đêm ấy trời mưa to, đường bị xói lở nhiều. Đại đội trưởng lệnh chúng tôi dừng lại tìm nơi ẩn nấp. Đến đêm mai lại chạy tiếp. Nhưng chúng tôi đang ở giữa vùng trống, không có nơi ẩn nấp an toàn cho cả đoàn xe. Lại thêm trời cứ mưa thế này, đến đêm mai chưa chắc đã hết. Tôi khuyên đại đội trưởng cho đoàn xe vượt dốc. Sau phút suy nghĩ, đại đội trưởng đồng ý.

Tôi lái xe đi đầu. Lấy hết bình tĩnh, tôi đạp mạnh chân ga. Chiếc xe lừ lừ chạy tới. Biết mặt đất trơn, tôi cố gắng giữ ga thật đều. Bánh xe bám chặt vào mặt đường giữ xe vững chắc. Bỗng chiếc xe lắc lư dữ dội vì vấp phải rãnh sâu. Tôi đạp mạnh ga hơn cho xe vượt qua nhưng không thể. Xe bị tuột ga rồi. Tôi đạp mạnh thắng để giữ xe lại nhưng mặt đường như rải dầu trơn tuồn tuột. Đuôi xe lệch về một bên, đầu xe quay ngang. Phía sau là con vực sâu đến nghìn mét.

“Chắc chắn xe sẽ lao xuống vực”. Tôi nghĩ thế và thầm mong có một sức mạnh nào đó nâng đỡ. Bỗng chiếc xe khựng lại. Tôi nghe tiếng đại đội trưởng thét lớn: “cho xe lao lên mau!”.

Tiếng thét làm tôi sực tỉnh. Tôi lấy hết sức đạp mạnh chân ga. Bánh xe chà xát trên mặt đường đưa đầu xe từ từ quay lên, bùn đất văng rào rào hai bên. Tiếng xe gầm thét dữ dội.

Chiếc xe khựng lại rồi từ từ quay đầu lên dốc. Tôi hít một hơi dài, nhấn ga thêm nữa, xoay vô lăng đều đều đưa xe lên. Cuối cùng, tôi cũng đưa xe lên đến đỉnh dốc an toàn. Bước xuống xe, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Nhìn đại đội trưởng và các đồng đội mình mẩy đầy bùn đất tôi nghẹn ngào xúc động vô cùng. Thì ra, khi thấy xe tôi trượt dốc, đại đội trưởng và các chiến sĩ đã vội đi tìm đá kê. Mỗi người một hòn kê vào bánh xe. Hết hòn này đến hòn khác cho đến khi xe lên hẳn trên dốc.

Một đêm đó, đoàn chúng tôi vượt dốc thành công nhờ mưu trí của đồng đội, kịp đưa xe về nơi trú ẩn an toàn.

Bình tĩnh, quả cảm, xử lý các tình huống mau lẹ, chính xác là những yếu tố cần có ở người lính lái xe. Người lái xe mặt trận không chỉ bình tĩnh vững vàng trong buồng lái, mà cần cả mưu lược, linh hoạt trong việc xử lý các tình huống trên thực địa.

Có khi còn phải biết làm “tham mưu” đề xuất với chỉ huy cấp trên các phương án khai thông khi tắc đường. Phải biết hợp đồng tác chiến với công binh, với bộ đội phòng không, phải hiểu rõ thủ đoạn và quy luật hoạt động của kẻ địch trên trời dưới đất để đưa hàng tới đích. Đó là lời dạy của đại đội trưởng mà tôi còn nhớ mãi cho tới bây giờ.

Chiến tranh là phải có hy sinh. Chúng tôi đã xác định điều mỗi khi lên đường. Người đồng đội thân nhất, đã cùng tôi vào sinh ra tử bao nhiêu trận đã hy sinh. Anh ra đi như một người lính thật sự, không hề hối tiếc.

Hôm ấy, sau một đêm vận chuyển, trên đường đi ra, trời sáng, đơn vị phải giấu xe che mắt địch. Chiều, bọn thám báo đã “đánh hơi”, gọi máy bay ném bom. Dứt đợt oanh kích của địch, ba đồng chí công binh gọi anh đi kiểm tra hiện trường. Tôi ngăn anh, để tôi đi trước, nhưng anh không chịu. Đến nơi giấu xe, anh đụng bom bi vướng nổ. Quả bom hất tung anh rơi xuống vực sâu. Anh ra đi, đồng đội vô cùng thương tiếc.

Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc chúng tôi khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một cách duy nhất là vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng. Vì thế thử thách ngày càng tăng cao chúng tôi lại càng quyết tâm chiến thắng.

Không thể nhớ hết bao nhiêu tình huống trên đường vận chuyển. Những chuyến xe lấy đêm làm ngày vượt qua những bãi bom phá, bom từ trường, bom bi trong vòng lượn của máy bay tiêm kích suốt ngày đêm lồng lộn xoi mói, oanh kích bắn phá các trọng điểm dọc đường Trường Sơn.

Những quả đồi đất thành bột, vách đá thành vôi, những sông bùn, những vực thẳm chồng chất xác xe cháy đổ. Dù kẻ thù rình rập, đường di nguy hiểm, dù có bao nhiêu hy sinh đi chăng nữa nhưng không gì thể cản bước đoàn xe chạy tới.

Xe vẫn chạy. Những đoàn xe nặng trĩu chuyến hàng vẫn ngày đêm chạy tới. Tất cả vì miền Nam ruột thịt. Tất cả vì sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước của dân tộc. Mỗi khi ngồi vào buồng lái, tôi lại nhớ đến các anh, nhớ đến nhiệm vụ thiêng liêng mà nhắc mình giữ vững tay lái, sống và chiến đấu xứng đáng với những người đã mãi mãi ra đi để bảo vệ đất mẹ thiêng liêng này.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 11

Suốt dải đường Trường Sơn bom đạn mịt mù, anh em chúng tôi – những người lính lái xe khi đó là những thanh niên trẻ tràn đầy nhiệt huyết và sức trẻ. Hồi đó, với chúng tôi những chiếc xe không kính chính là bạn đường, người đồng hành, chúng tôi không chê ngược lại còn rất trân trọng và lạc quan với những chiếc xe không kính.

Đâu phải những chiếc xe không kính sinh ra đã thế, mà bởi vì bom đạn chiến trường quá ác liệt, từng trận mưa bom đạn dội xuống rung chuyển cả đất trời thì kính của ô tô nào chịu nổi. Với những người lính lái xe như tôi thì kính có cũng được, không có cũng chẳng sao. Chúng tôi càng ung dung tự tại, càng hòa mình với thiên nhiên cây cỏ, được ngắm bầu trời trong xanh cùng những con đường, hoa lá, cỏ cây. Dường như gió lộng, sao trời, cánh chim đều ùa vào buồng lái. Những đêm có sao, tôi lái xe cảm tưởng như mình đang đi giữa bầu trời tự do, cảm giác ấy nó lạ lắm, thật khó mà diễn tả nổi. Chúng tôi, những gã trai tráng cứ hiên ngang, nhìn về phía trước.

Tất nhiên không kính thì tránh sao được bụi, bụi trên đường rừng thì mù mịt rồi, trắng xóa cả tóc. Lại nhớ mấy cậu trai khoa văn, cứ nhìn nhau ôm bụng cười: “Trông tụi mình có khác gì người già không cơ chứ!”. Thế nhưng chẳng cần bận tâm, chẳng cần rửa, những lúc như thế chúng tôi châm điếu thuốc hút phì phèo rồi nhìn mặt nhau lấm bụi mà cười đùa như thế. Mỗi khi lái xe gặp mưa to, các bạn nghĩ chúng tôi phải nghỉ tránh mưa sao? Không hề, càng mưa thì càng chạy, chạy cho mát, và hơn cả là để nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Áo ướt rồi áo lại khô, chỉ cần lái vài trăm cây số gió thổi quần áo tự khô mà chẳng cần giặt, phơi phóng gì cho mệt.

Đâu phải chỉ có một, hai chiếc xe không kính, có cả một tiểu đội ấy chứ. Anh em lính lái xe chúng tôi thân nhau lắm, gặp nhau trên đường chúng tôi thản nhiên bắt tay qua cửa kính đã vỡ: “Chào đồng chí”, “Đồng chí dạo này khỏe không?”,… Đường còn dài, cũng có lúc phải nghỉ ngơi, phải ăn uống, cũng phải cho xe nguội máy nữa. Chúng tôi mỗi người một việc, đào bếp Hoàng Cầm, kiếm củi, nấu cơm, đến lúc ngồi ăn cùng mâm chung bát, chung đũa thế là như một gia đình. Nghỉ ngơi cũng chẳng có gì khó với người lính lái xe, an toàn nhất là mắc võng ngủ trên cây, giữa đường xe chạy. Càng tiếp tục đi tôi càng thấy trời xanh, càng thấy niềm tin và hi vọng đang ở ngay trước mắt. Trải qua bom đạn đường dài, dẫu cho chiếc xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe xước chằng chịt thì những chiếc xe và người lính lái xe vẫn cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Xe dù thiếu thốn đủ thứ nhưng vẫn chạy bon bon trên đường bởi vì trong xe có trái tim người lính, một trái tim hướng về miền Nam, hướng về hòa bình và độc lập dân tộc.

Đã bao nhiêu năm trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ như in những người đồng đội lái xe cùng mình, nhớ từng chiếc xe không kính. Năm tháng gian khó ấy đã qua đi, có cả niềm vui và nỗi buồn. Thật không dễ dàng để có được hòa bình, tự do như ngày hôm nay. Bởi vậy, tôi mong rằng thế hệ trẻ ý thức được điều đó và cố gắng gìn giữ, bảo vệ độc lập của dân tộc.

Đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu 12

Tôi từng là một người lính lái xe, tham gia chiến đấu ở tuyến đường Trường Sơn những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Đến bây giờ ngồi nghĩ lại năm tháng hào hùng ngày xưa, tôi lại thèm được ngồi vào buồng lái và lái những chiếc xe không kính đi giữa rừng mưa bom, đạn lạc.

Nhận nhiệm vụ lái xe chở hàng hóa nhu yếu phẩm ra tiền tuyến miền Nam, tôi ý thức được đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Cùng chung nhiệm vụ đó với tôi còn có rất nhiều người và chúng tôi được gọi là “Tiểu đội xe không kính”. Sở dĩ có cái tên ấy là bởi chúng tôi là lính lái xe, lái những chiếc xe không có kính, mà vì sao không có kính thì đơn giản là vì bom giật, bom rung kinh khủng quá, kính vỡ đi rồi. Ai bảo không có kính thì không lái được xe, thời ấy xe chỉ cần có máy móc hoạt động, có người lái là có thể vận chuyển mọi thứ.

Ngồi trong buồng lái như ngồi ngoài trời, thoáng đãng và ung dung, tự dưng tôi lại thấy nếu có kính cũng chỉ thêm phiền. Xe có kính thì lúc mờ, lúc bẩn phải lau, phải gạt. Không có kính thì chúng tôi như được hòa mình vào cảnh vật trên đường, cảm giác lái xe chân thật và sinh động biết bao nhiêu. Tôi cứ thế nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng về phía trước. Những cơn gió, ánh sao trời, những cánh chim và con đường, tất cả như ùa vào buồng lái.

Mặc dù xe không kính rất bụi, phun bạc cả tóc nhưng chẳng hề gì, mặt có lấm lem cũng là cái hay để mua vui cho mọi người. Có anh bạn đùa rằng: “Bụi phun tóc trắng như người già”. Cả đám cười ầm lên. Châm điếu thuốc, nhìn nhau cười, ấy là niềm vui suốt đường dài của người lính lái xe. Lái xe không có kính, chúng tôi lái với thái độ bất cần, mưa nắng mặc kệ, quần áo ướt rồi gió thổi quần áo lại khô, xe cứ đi chẳng cần dừng, có vậy mới sớm vào được miền Nam. Chúng tôi lái những chiếc xe từ trong bom rơi, như đi ra khỏi ranh giới sinh tử, nhìn thấy bè bạn đều vui phấn khởi nhưng cũng chẳng kịp câu chuyện, cái ôm mà chỉ vội bắt tay nhau qua cửa kính xe đã vỡ: “Chúc đồng chí lên đường thuận lợi!”. Lúc nghỉ chân nạp nhiên liệu cho xe, anh em lái xe lại cùng nhau nhóm bếp, nổi lửa nấu cơm. Chung bát, chung đũa, chúng tôi coi nhau như một gia đình, tự nhắc mình chỉ nghỉ một chút thôi rồi lại lên đường vì miền Nam đang chờ đợi. Thế rồi những chiếc xe không kính đâu chỉ thiếu kính, còn không có đèn, không có mui xe, thùng xe còn xước. Ấy vậy mà xe vẫn cùng những người lính hướng về miền Nam và chạy.

Phải thừa nhận rằng, trái tim, ý chí và hy vọng của những người lính lái xe chúng tôi khi ấy chỉ một lòng hướng về miền Nam, chỉ cần chúng tôi còn sống, xe vẫn còn tiếp tục đi. Nhớ lắm những người đồng đội, những chiếc xe không kính thân thương…

***************

Trên đây là 15 bài văn mẫu đóng vai người lính kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính do TH Văn Thủy tổng hợp. Hy vọng các em sẽ dễ dàng hóa thân vào những người lính lái xe kiên cường, bất khuất trên tuyến đường Trường Sơn xưa. Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao!

Đăng bởi: TH Văn Thủy

Chuyên mục: Giáo dục

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: Trường TH Văn Thủy (thptsoctrang.edu.vn)

nguvan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy bộ môn Văn Học tại Đại học Sư phạm Hà Nội
Back to top button