Giáo dục

Phân tích bài Thơ tình người lính biển

Phân tích và đánh giá nội dung nghệ thuật bài thơ Thơ tình của người lính biển

Phân tích vẻ đẹp người lính đảo trong bài Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa

Thơ tình người lính biển là một bản tình ca đậm chất biển đảo của nhà thơ Trần Đăng Khoa sáng tác khi ông còn là lính hải quân. Bài thơ là tiếng lòng của những người lính đảo xa đất liền nhưng không bao giờ cảm thấy cô độc bởi: Biển một bên và em một bên! Dưới đây là tổng hợp các bài văn mẫu phân tích bài thơ Thơ tình người lính biển hay và ý nghĩa, mời các bạn cùng tham khảo.

phan tich bai tho tinh nguoi linh bien

1. Phân tích và đánh giá nội dung nghệ thuật bài Thơ tình của người lính biển

Đề tài chiến tranh luôn là đề tài được nhiều tác giả khai thác. Mỗi tác phẩm đều đem đến những nét đẹp, những hình ảnh đặc biệt và riêng. Trong đó tác phẩm ” Bài thơ tình người lính biển” của Trần Đăng Khoa là một bài thơ hay nói về hình ảnh người lính biển.

“Bài thơ chuyện tình người lính biển” được sáng tác năm 1981 và in trong tập thơ ” Bên cửa sổ máy bay” năm 1985 của tác giả Trần Đăng Khoa sau đó được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhác thành bài hát ” Chút thơ tình người lính biển.”

Những người lính lên đường bảo vệ Tổ Quốc luôn luôn sẵn sàng, không bao giờ quản nhọc nhằn. Nhưng trong họ lúc nào cũng luôn mang trong mình một tình yêu, tình cảm của tuổi trẻ. Tác giả Trần Đăng Khoa đã khéo léo đưa những hình ảnh thiên nhiên, con thuyền vào thơ của mình. Hình ảnh anh lính biển ra khơi với cánh buồm trắng no gió. Hay hình ảnh bọt sóng tung trắng xóa. “Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc/ Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc”. Những hình ảnh đẹp để lại cho chúng ta bao nhiêu cảm xúc.

Cũng từ những hình ảnh đó, con thuyền ra khơi, buông neo cũng là lúc nào nhân vật ” em” lúc xuất hiện. “Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng” là lúc anh lính bắt đầu ra khơi. Anh lính luôn luôn nhớ đến nụ cười dịu êm, hiền lành của em đối lập với tiếng sóng vỗ ồn ào của biển cả. Dù có nặng lòng như nào thì trong lòng người lính vẫn luôn nhớ rằng đất nước chưa một phút nào yên. Trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc phải được đặt lên hàng đầu.

Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh và đặc biệt là điệp từ, điệp ngữ. Mỗi khổ thơ đều kết thúc bằng câu ” Biển một bên và em một bên” để thấy được rằng tình yêu của người lính. Biển cũng chính là Tổ Quốc, đất nước được đặt ở một bên trong trái tim, bên còn lại là dành cho em.

Nhà thơ không chỉ nói hộ tâm cảm họ mà còn thu nhỏ cả biển trời bao la quanh họ đặt vào cái nơi ấm áp nhất của trái tim, bên cạnh hình ảnh dấu yêu của người yêu dấu để đi đâu, về đâu, bất cứ lúc nào những chàng trai trẻ xa nhà, xa quê ấy cũng không cảm thấy cô độc, bởi vì đã có niềm tin rằng: Biển một bên và em một bên Bài thơ thể hiển sự da diết tình yêu của người lính biển.

2. Phân tích bài Thơ tình người lính biển của tác giả Trần Đăng khoa

Thơ viết về đề tài chiến tranh, có những bài thật xúc động neo giữ bền chặt trong lòng bao thế hệ. Đó là những cuộc chia tay của người đi bảo vệ Tổ quốc và người yêu ở lại. Tiêu biểu như “Chia tay trong đêm Hà Nội” của Nguyễn ĐìnhThi, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn…Theo dòng cảm xúc đó, Trần Đăng Khoa có bài “Thơ tình người lính biển”.

Đây cũng là cuộc chia tay đầy lưu luyến, đầy lãng mạng và cũng rất đỗi tự hào của người lính hải quân đi làm nhiệm vụ giữ biên hải thiêng liêng của Tổ quốc. Tình cảm này đại diện cho tình yêu của hậu phương tạo thêm sức mạnh cho người lính biển ra khơi đến với biển đảo xa xôi để bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc.“Thơ tình của người lính biển” ra đời đã được nhiều thế hệ đón nhận. Và khi nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc đã nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành bài ca đi cùng năm tháng.Bài thơ thật bình dị, thật gần gũi. Cái bình dị, gần gũi được gói gọn trong tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và tình yêu lứa đôi thủy chung của người lính biển. Câu thơ: “Biển một bên và em một bên…” được lặp lại như một điệp khúc trong năm khổ thơ của bài thơ. Nhịp điệu bài thơ khoan thai, dìu dặt tựa như những con sóng vỗ chao mạng thuyền. Nhưng được người lính lắng lại. Rồi tĩnh tâm để cân bằng hai đối trọng. Ta cùng thả hồn cùng tác giả, thì giai điệu câu thơ lại nghiêng về “Biển”. Thật vậy, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã nhận ra điều này.

Ông đã đưa giai điệu “Biển một bên” tha thiết vút cao và “Em một bên” dịu xuống rồi ngân dài. Nhưng giai điệu câu thơ không vì thế mà mất cân bằng. Luôn tạo ra đối trọng tương hỗ nhau để con thuyền băng băng ra biển lớn. Phải chăng, giai điệu ấy đã thôi thúc người lính biển bao giờ cũng đặt tình yêu Tổ quốc trên hết. Câu thơ thật lãng mạng cũng thật trí tuệ. Biển, đấy là Tổ quốc. Em, đấy là tình yêu lứa đôi. Đại diện cho cái rộng lớn và cái nhỏ bé. Cái chung và cái riêng cùng vun đắp cho khát vọng niềm tin của người lính biển. Nhà thơ Tế Hanh trong bài tứ tuyệt “Sóng” cũng viết: “Biển một bên, em một bên”. Theo tôi, Tế Hanh chỉ dừng lại ở một vế nói lên tình yêu lứa đôi mặc dù vẫn có hình ảnh em và biển. Còn Trần Đăng Khoa thay dấu phẩy bằng liên từ “và” vừa tách bạch vừa liên thông giữa hai nhân vật biển và em đại diện cho hai tình yêu Tổ quốc và riêng tư luôn tương quan chia sẻ tạo ra sức mạnh và niềm tin của người lính trẻ. Tình cảm đó đã tạo thành câu thơ điệp lại năm lần trong năm khổ thơ dệt nên điểm nhấn cho bài thơ thật hay.Bài thơ được khởi nguyên bằng ba từ thật đơn giản: “Anh ra khơi”.
Đằng sau ba từ ấy lại đong đầy tâm trạng của người lính biển. Mà mở đầu là hình ảnh cặp uyên ương chia tay nhau trên bến cảng. Một hình ảnh rất thực, khi đọc lên ai cũng hình dung ra được. Người lính biển rảo bước cùng người yêu của mình và ở đó anh nhận ra những vầng mây treo ngang trời như những cánh buồm trắng. Đấy là những hình ảnh thân quen của người lính biển. Thật lạc quan khi người lính nhìn mây treo ngang trời như cánh buồm phiêu du, như thôi thúc anh tạm xa người yêu về cùng với biển đảo thân yêu. Giờ, trong khoảnh khắc, cái hạnh phúc thật dung dị, thật hiếm hoi, biển và em lại ngân lên. Đấy là Tổ quốc thiêng liêng, là tình em chung thủy đan cài…Dấu chấm lửng đặt sau câu thơ: “Biển một bên và em một bên…” tạo cho người đọc sự đồng cảm, sẻ chia của sự cách xa trong tình yêu đôi lứa và những tâm sự thiết tha chưa kịp nói hết. Tất cả vì nghĩa lớn, vì Tổ quốc thân yêu.Trong khoảnh khắc hạnh phúc lứa đôi, họ sánh bước bên nhau bên chân sóng, nơi bến cảng xôn xao, nhà thơ đã khắc họa tính cách của biển và em: “Biển ồn ào, em lại dịu êm”. Hai hình ảnh ngỡ như tương phản nhau. Không, trong cảnh huống này đấy là sự tương thuộc. Bởi cả hai đã lắng sâu trong trái tim người lính biển.Bên chân sóng rì rào, người con gái buông câu nói diết da tình ái, rồi nén nỗi chia xa đầy luyến lưu của người ở lại.

Rồi lặng lẽ mỉm cười, như lời động viên tha thiết của mình khi ngoài kia biển đang thôi thúc tinh thần và trách nhiệm làm trai. Để rồi người lính đi giữa cái chung và riêng trước phút chia tay mà hóa thân thành con tàu lắng sóng từ hai phía. Và trái tim lại ngân lên: “ Biển một bên và em một bên…”Trong khoảnh khắc ấy, người lính biển chợt nhận ra: “Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn/ Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc/Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc/Biển một bên và em một bên…” Hai từ “ngày mai” được viết liền nhau hai lần như sự khẳng định chắc chắn nơi anh sẽ đến để thực hiện nghĩa vụ cao quý của mình bằng tâm thế thật lạc quan. Và người đọc có thể hình dung, có thể định lượng được bằng cảm quan rằng, nơi anh đóng quân thật xa xôi, thật cách trở. Và không gian ấy được trải dài vô tận với thăm thẳm nước trời, với chùm sao xa lắc. Ở đó có thể là đảo chìm, đảo nổi, có thể anh đang cùng đồng đội trên tàu tuần tra…Trước biển trời bao la, con người được xem như nhỏ bé, đơn độc là điều dễ hiểu. Nhưng “anh không cô độc” bởi trong anh có tình yêu Tổ quốc, có đồng đội, có hậu phương, có hình bóng em nơi quê nhà…Xưa nay khi nói về biển, người ta thường nghĩ tới những hiểm họa. Nào kẻ thù đang rình rập xâm lấn, nào thiên tai, nhân tai, nào những bất trắc khôn lường… Vì lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc, đã có không ít chàng trai Việt ra đi không trở về, thi thể họ vùi chôn nơi đáy biển nghìn thu. Và biết bao ngôi mộ gió khắc khoải ru hồn: “ Đất nước gian nan chưa bao giờ bình yên/Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng”.
Nhưng không vì thế làm cho người thanh niên Việt Nam chùn bước. Theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước, họ sẵn sàng đi đến nơi đầu sóng ngọn gió để hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách hiên ngang: “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng”. Tác giả thật tài hoa khi dùng dấu chấm để ngắt nhịp câu thơ, tạo thành ba cụm câu, đã đem lại hiệu quả biểu cảm thật cao, tạo cho người đọc sự liên tưởng đến những vất vả, gian lao của người lính biển, nhưng cũng thật tự hào.

Hình ảnh “Anh đứng gác.”đã hóa thân thành cột mốc kiên định chủ quyền lãnh hải, là biểu tượng của lòng yêu nước và sự kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.Từ thuở cha ông bằng thuyền nan dong buồm đi cắm mốc chủ quyền quốc gia trên biển. Các thế hệ của dân tộc ta luôn nối tiếp nhau vượt qua bao gian nan thử thách để giữ vững chủ quyền của dân tộc. Các anh luôn trung thành, luôn thủy chung với tình yêu đất nước, với tình yêu lứa đôi dẫu bao giả định, bao bất trắc có thể xảy ra. Đó là tình yêu vĩnh hằng thiêng liêng của người lính biển: “Vòm trời kia có thể sẽ không em/Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ/Cho dù thế thì anh vẫn nhớ/Biển một bên và em một bên…”

“Thơ tình người lính biển” là bài thơ với những hình ảnh ấn tượng. Vừa sâu lắng, vừa mãnh liệt cùng với âm điệu lúc trầm lúc bổng, lúc nhanh lúc chậm. Tất cả cùng hòa điệu trong âm hưởng “Biển một bên và em một bên…” tạo ra sự lan tỏa sâu rộng về tình yêu Tổ quốc quyện hòa cùng tình yêu lứa đôi lay thức trách nhiệm công dân trong lòng bao thế hệ.

3. Phân tích bài Thơ tình người lính biển

Có một mảng thơ rất hay viết về đề tài chiến tranh, đó là cuộc chia tay của người lính ra trận. Nguyễn Đình Thi có “Chia tay trong đêm Hà Nội”, Nguyễn Mỹ có “Cuộc chia ly màu đỏ” và Trần Đăng Khoa với “Thơ tình người lính biển”. Tác phẩm được sáng tác năm 1981 khi ông chính thức thuộc biên chế của Bộ Tư lệnh Hải quân và có dịp đi nhiều vùng biển, đến các đơn vị hải quân (từ những hạm đội, hải đoàn đến tận quần đảo Trường Sa), vì vậy ông có nhiều điều kiện để trực tiếp sống cùng và thấu hiểu cuộc sống người lính đảo. Nó diễn tả đúng trình tự thời gian từ lúc nhân vật “anh” chia tay với nhân vật “em” ở bến cảng tới lúc “anh” làm nhiệm vụ ở đảo xa, đan xen suy tư vừa cá nhân vừa mang tính thời đại và nó đã thể hiện thành công vẻ đẹp tâm hồn người lính biển.

Ngay từ những vần thơ đầu tiên, hiện thực đã được tái hiện một cách đầy lãng mạn:

“Anh ra khơi

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng

Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên..”

Thi sĩ mở đầu văn bản bằng ba từ thật đơn giản: “Anh ra khơi” và đằng sau ba từ đấy lại đong đầy tâm trạng của chiến sĩ hải quân. Người lính chia tay bạn gái để lên tàu làm nghĩa vụ bảo vệ biển trời thân yêu của Tổ quốc. Một mối tình thật đẹp và lưu luyến nhưng cũng rất hiểu, thông cảm cho nhau về nhiệm vụ người bạn trai phải gánh vác. Thế nên, trong thời khắc chia xa, cả hai rảo bước đi dạo trên bến cảng như không biết xung quanh có gì và đây có lẽ là cái hạnh phúc dung dị hiếm hoi mà họ được bên nhau vì anh có thể một đi không trở lại. Ở đó, những cánh buồm trắng được treo ngang trên bầu trời xanh thẳm, cao vời vợi bởi những áng mây bồng bềnh (biện pháp nhân hóa “treo ngang trời”) giống như đang báo hiệu đoàn thuyền đưa anh đến biển đảo xa xôi chuẩn bị cập bến và họ sắp phải xa nhau. Dấu chấm lửng đặt sau câu thơ “Biển một bên và em một bên” là một dụng ý nghệ thuật của tác giả, tạo cho người đọc sự sẻ chia, đồng cảm với sự xa cách trong tình yêu tuổi trẻ và tâm sự thiết tha chưa kịp nói hết, chưa kịp dãi bày. Tiếp theo, nhà thơ đã khắc họa tính cách của biển và em:

“Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên..”

Chỉ một lần dạo trên bến cảng mà sự cồn cào của biển, sự dịu êm của em đã lan tỏa cả lòng anh. Ông dùng biện pháp đối lập “ồn ào” – “dịu êm”, nhân hóa “biển ồn ào” để cho thấy biển cả mênh mông với những con sóng cuồn cuộn như thôi thúc tinh thần, như vẫy gọi anh hãy mau lên đường đi chiến đấu và sự dịu hiền, kín đáo ở em. Hai hình ảnh trên ngỡ như tương phản nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, đây lại chính là sự tương thuộc bởi cả hai đã in đậm khắc sâu trong trái tim của anh rồi. Từng tiếng nói êm ái, từng tiếng cười dịu dàng của em đều rất tinh tế khi em chỉ buông câu nói da diết ái tình và nén nỗi đau chia xa đầy bịn rịn của người ở lại vào đáy lòng, rồi lặng lẽ mỉm cười như động viên, khích lệ. Nụ cười ấy chính là sợi dây vô hình níu giữ anh, khiến tâm hồn anh xao xuyến, bâng khuâng, khiến anh so sánh, ví von bản thân “như con tàu lắng sóng từ hai phía” : Biển và em. Được gần em hay gần biển đều là niềm khát khao cháy bỏng của người lính đảo. Thực ra, khi yêu, các anh cũng như bao người bình thường khác, đều muốn bên cạnh người mình yêu. Nhưng khi đất nước chưa yên bình, họ phải kìm nén ước muốn đó lại. Về điều này, thi sĩ Phùng Quán trong bài thơ “Hôn” đã nói hộ các anh:

“Khi người ta yêu nhau

Hôn nhau trong say đắm

Còn anh, anh yêu em

Anh phải đi ra trận”

Ở khoảnh khắc đó, người lính chợt nhận ra:

“Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên..”

Điệp ngữ “ngày mai” khẳng định nơi anh đến thật xa xôi và có thời không cách trở, trải dài vô tận với chùm sao xa lắc, với thăm thẳm nước trôi (đảo ngữ “thăm thẳm”), tuy vậy, anh vẫn thực hiện nghĩa vụ bằng tâm thế lạc quan yêu đời. Trước biển trời bao la, con người thật nhỏ bé và tác giả khẳng định dù một mình nhưng “anh không cô độc” bởi trong trái tim, anh luôn có tình yêu Tổ quốc, tình yêu biển cả, có gia đình, đồng đội và bóng dáng của em. Tiếp đến khổ bốn, thi nhân đã khơi gợi lại năm tháng khó khăn của dân tộc:

“Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên

Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng

Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng

Biển một bên và em một bên..”

Ông nhân hóa “đất nước gian lao” để thể hiện nước ta trong giai đoạn ấy là một mảnh đất nhỏ bé đầy sự cực nhọc vì gánh nặng của chiến tranh, của những kẻ thù không ngừng gây chiến, muốn biến Việt Nam thành thuộc địa và còn cả của khí hậu, thời tiết đầy khắc nghiệt nữa, từ đó làm ta nhớ tới hai câu thơ trong “Mùa xuân nho nhỏ” : “Đất nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gian lao”. Hình ảnh ẩn dụ “những vành tang trắng” gợi vành khăn tang hay chính là nỗi đau của những nhân dân có người thân chết vì thiên tai, bão tố khắc nghiệt và gợi nỗi đau của đất nước đã phải đối mặt, trải qua không chỉ là mất mát của thiên tai mà còn là mất mát của chiến tranh. Chính vì thế, anh đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và sẵn sàng đến nơi đầu sóng ngọn gió để hoàn thành nhiệm vụ: “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng”. Câu thơ ngắt nhịp như dồn nén, làm hình tượng chiến sĩ hải quân hiện lên nhỏ bé giữa thiên nhiên rộng lớn, vắng vẻ nhưng vẫn rất hiên ngang, hào hùng, kiên cường dũng cảm với tư thế cầm chắc tay súng để giữ gìn nền độc lập của nước nhà và qua đó gợi liên tưởng đến bốn câu thơ đầu trong bài “Người lính đảo” của tác giả Nguyễn Lan Hương:

“Nơi anh đứng trời xanh và gió lộng

Giữa mênh mông sóng nước đại dương

Lắm gian nguy mà dạ vẫn kiên cường

Chắc tay súng mà bền gan vững trí”

Khép lại bài thơ, thi sĩ nhấn mạnh tình cảm, lẽ sống của anh đã và sẽ mãi mãi dành cho “biển” và “em” :

“Vòm trời kia có thể sẽ không em

Không biển nữa. Chỉ còn anh với cỏ

Cho dù thế thì anh vẫn nhớ

Biển một bên và em một bên..”

“Vòm trời” ở đây chính là vòm nhà của anh và đồng đội, anh ngước lên nhìn trời để tìm ra niềm hi vọng và sự thư thái bình yên trong tâm hồn. Trong bài có nhiều giả định, các câu thơ giả định này tạo ra từ những cơn sóng vỗ bờ tha thiết, day dứt không yên. Giả định để khẳng định khi “không em”, “không biển”, “chỉ còn anh với cỏ” thì anh vẫn sẽ luôn trung thành với tình yêu đất nước và thủy chung với tình yêu lứa đôi dẫu bao bất trắc có thể xảy ra. Đó là tình yêu vĩnh hằng thiêng liêng của người lính biển. Và biển là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu quê hương đất nước (đại diện cho cái rộng lớn) còn em là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu đôi lứa (đại diện cho cái nhỏ bé), từ đó cho thấy cái chung và cái riêng cùng vun đắp cho khát vọng niềm tin của người lính. Hơn nữa, câu “Biển một bên và em một bên” được điệp lại năm lần cuối mỗi khổ đã khẳng định trong tâm hồn anh, tình em luôn hòa quyện một cách hài hòa vs tình biển trời Tổ quốc.

Tóm lại, bằng việc sử dụng giọng điệu sâu lắng, âm hưởng trầm bổng, dạt dào thương nhớ, câu từ giản dị nhưng giàu sức gợi hình gợi cảm, kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, đối lập tương phản, Trần Đăng Khoa đã khắc họa một cách sâu sắc mối tình sâu đậm đầy cảm động giữa anh, em và biển, qua đó thể hiện anh là người sống có lí tưởng với những ý nghĩ lớn lao và cho thấy anh rời xa em, ra đi đấu tranh không có nghĩa anh không yêu em, mà là anh rất yêu em, anh làm vậy là để em được sống trong hòa bình. “Biển ồn ào, em lại dịu êm” trở đi trở lại như một điệp khúc, như những đợt sóng da diết, cồn cào mà hào hùng, kiêu hãnh của tuổi trẻ và đó là ngọn sóng của thi ca bất diệt sống mãi với thời gian.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 10 thuộc chuyên mục Học tập của Nguvan.edu.vn.

Qua bài trên Phân tích bài Thơ tình người lính biển đã giải đáp được vấn đề bạn cần tìm kiếm hay không? Nếu chưa bạn hãy bình luận góp ý về Phân tích bài Thơ tình người lính biển ở phía dưới để TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯƠNG VĂN CAN thay đổi và cải thiện chất lượng bài viết ngày càng tốt hơn. Chúng tôi cảm ơn bạn đã ghé qua Website: thpt-luongvancan.edu.vn của TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯƠNG VĂN CAN.
Danh Mục: Lớp 10

nguvan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy bộ môn Văn Học tại Đại học Sư phạm Hà Nội
Back to top button