Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà lớp 9 hay nhất (23 Mẫu)

Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà lớp 9 hay nhất bao gồm dàn ý chi tiết cùng 23 bài văn mẫu đạt điểm cao của các em học sinh giỏi trên toàn quốc được thầy cô biên soạn và chọn lọc sẽ giúp các em có thêm nhiều ý tưởng mới để hoàn thiện tốt bài phân tích theo văn phong của riêng mình.

Đề bài: Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà

Be thu 700
Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà lớp 9 hay nhất

Dàn ý phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà lớp 9 chi tiết

Dàn ý phân tích nhân vật bé Thu – Mẫu 1

1. Mở bài:

Giới thiệu về Nguyễn Quang Sáng và truyện Chiếc lược ngà. Nêu hoàn cảnh sáng tác: năm 1966, vào thời chống Mĩ khốc liệt. Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu: Tình cảm mạnh mẽ, sâu sắc. Cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng vẫn là một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ.

2. Thân bài:

Khái quát được cảnh ngộ của bé Thu:

Đất nước có chiến tranh, cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi, lớn lên em chưa một lần được cha chăm sóc yêu thương, tình yêu Thu dành cho cha chỉ gửi trong tấm ảnh chụp cùng má.

Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật bé Thu:

  • Tâm trạng của bé Thu lúc đầu: ngạc nhiên, sợ hãi và bỏ chạy; không nhận ông Sáu là cha vì ông không giống trong bức ảnh; luôn tỏ ra lạnh nhạt, xa lánh ông Sáu; phản ứng quyết liệt, rồi trốn sang nhà bà ngoại kể nồi tức tối của minh (phản ứng rất thơ ngây của đứa trẻ).
  • Tâm trạng của bé Thu lúc sau: buồn rầu nghĩ ngợi thể hiện sự ân hận : nuối tiếc sau khi được bà ngoại giải thích; hối hận và nhận cha đúng lúc phải chia tay cha; bộc lộ tình cảm mãnh liệt và xót xa.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật bé Thu:

  • Tình huống truyện (éo le).
  • Khắc họa tâm lý nhân vật (sự bướng bỉnh trẻ con, khi cha sắp đi).
  • Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ (chân chất, mộc mạc, giàu tình cảm).

3. Kết bài:

Tác phẩm là câu chuyện kể cảm động về tình cha con; thể hiện tấm lòng yêu thương, nhạy cảm của nhà văn đối với con người. Rút ra bài học, liên hệ nêu suy nghĩ bản thân.

Dàn ý phân tích nhân vật bé Thu – Mẫu 2

1. Mở bài

Giới thiệu về truyện ngắn Chiếc lược ngà và nhân vật bé Thu:

– Chiếc lược ngà là truyện ngắn cảm động viết về tình cảm cha con

– Diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận cha góp phần quan trọng thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.

2. Thân bài

* Trước khi nhận ba:

– Sợ hãi, bỏ chạy khi được ông Sáu ôm vào lòng trong lần đầu gặp mặt

– Bướng bỉnh không chịu nhận ông Sáu là ba:

+ Xa lánh ông Sáu, quyết không chịu gọi tiếng ba

+ Từ chối mọi hành động quan tâm của ông Sáu

+ Nói trổng khi muốn nhờ ông Sáu chắt nước giúp

+ Hất tung cái trứng ra khỏi bát khi được ông Sáu gắp vào bát

+ Bị ba đánh đòn à khóc chạy sang nhà bà ngoại

=> Bé Thu là cô bé bướng bỉnh, cá tính nhưng ẩn chứa bên trong là tình thương tha sâu sắc.

* Sau khi nhận ba:

– Nghe bà ngoại kể về vết sẹo à Hiểu ra mọi chuyện, hối hận và thương ba nhiều hơn.

– Cất tiếng gọi ba trong khoảng khắc chia tay

– Ôm lấy ba, hôn lên vết sẹo trên mặt ba, không muốn ba rời đi

=> Tình thương cha tha thiết, mãnh liệt

3. Kết bài

– Bé Thu là cô bé bướng bỉnh nhưng giàu tình thương cha.

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế tạo ra sức hấp dẫn cho câu chuyện.

Các bài văn mẫu Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 1

Nguyễn Quang Sáng là một trong những nhà văn tiêu biểu trong thời kỳ Cách mạng Việt Nam. Các tác phẩm của ông đều có những cốt truyện tuy không cầu kỳ, phức tạp nhưng nó lại bình dị và chân thực, dễ hiểu và dễ chiếm được thiệm cảm của người đọc. Điển hình là tác phẩm để đời của ông – Chiếc lược ngà, với cốt truyện đơn giản cùng nhân vật bé Thu và tình cha con sâu sắc, được Nguyễn Quang Sáng dùng ngòi bút của mình đặc tả tâm lí nhân vật quá tinh tế và tuyệt vời, khiến tác phẩm lấy đi nhiều nước mắt của độc giả.

Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, mất năm 2014, ông là một trong những nhà văn tiêu biểu trong nền Văn học Việt Nam từ thời kỳ kháng chiến. Đồng thời, ông cũng là tác giả đã sáng tác ra nhiều tác phẩm văn chương và kịch bản nổi tiếng gắn liền với thời kỳ này.

Một trong số những tác phẩm để đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng phải kể đến chính là tác phẩm “Chiếc lược ngà” được sáng tác năm 1966. Nội dung tác phẩm ca ngọi tình cảm gia đình sâu sắc trong thời chiến tranh, tình cảm cha con cảm động đã lấy đi nhiều đồng cảm và nước mắt của độc giả.

Nhân vật chính trong tác phẩm chính là bé Thu – một cô bé có các tính mạnh mẽ, ương ngạnh, bướng bỉnh nhưng lại có một tâm hồn vô cùng trong sáng, ngây thơ và thiện lương cùng tình tình thương sâu sắc dành cho cha của mình.

Bé Thu từ khi sinh ra vốn chưa biết mặt cha, cô bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và bà ngoại, mặc dù trong lòng luôn khao khát được biết mặt ba dù chỉ một lần. Thế nhưng, trong cuộc gặp đầu tiên, khi Thu nghe tiếng gọi của ông Sáu “Thu! Ba đây con”- người cha đi chinh chiến từ lâu được nghỉ phép về nhà ba ngày để thăm gia đình , cô bé lại tỏ ra “giật mình tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng rồi bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên “má, má”.

Đó cũng chính là tâm lý chung của những đứa trẻ từ lâu vẫn chưa biết mặt cha, thêm vào đó Thu vẫn còn nhỏ, thế nên khi mẹ và bà ngoại giới thiệu ông Sáu là cha, Thu vẫn chưa thể chấp nhận được.

Bên cạnh đó, bé Thu vốn cảm thấy sự xa lạ với ông Sáu, nay còn cảm thấy sợ hãi với vết sẹo lớn trên mặt ông do vết tích của mưa bom lửa đạn để lại trong những trận chiến khốc liệt. Nên những ngày sau đó Thu vẫn ương bướng không chịu nhận cha mặc dù ông Sáu vẫn luôn tìm cách vỗ về cô bé.

Nguyễn Quang Sáng đã mở đầu tác phẩm với văn phong đặc tả tâm lý của một cô bé 8 tuổi vô cùng táo bạo và tinh tế. Ông như nắm bắt rõ ràng và hiểu sâu sắc tâm lý của nhân vật, đặc biệt đó lại là tâm lý trẻ em. Qua đó, tác giả đã mượn cách miêu tả tâm lý của một cô bé để thể hiện tính cách kiên quyết, mạnh mẽ của những người dân Nam Bộ.

Sự ương ngạnh ấy của bé Thu còn được thể hiện qua từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất mà cô bé đối với ba. Bởi thế nên khi mẹ bảo mời vô ăn cơm, Thu vẫn nghe lời mẹ nhưng lại miễn cưỡng gọi ba trống không “vô ăn cơm”. Đó cũng chính là sự thẳng thắng, chân thật của những người Nam Bộ, không thích họ sẽ biểu hiện ra mặt, chứ nhất quyết không nhân nhượng, giả dối. Đặc biệt là tính kiên cường, kiên quyết còn được thể hiện qua chi tiết Bé Thu tuy không chắt nước được nồi cơm, nhưng cô bé vẫn nhất quyết không để ông Sáu giúp đỡ.

Cốt truyện được đẩy lên cao trào khi trong bữa cơm, ông Sáu gắp trứng bỏ vào bát cho Thu, nhưng “nó hất tung cái trứng ra mâm, cơm văng tung tóe”. Có vẻ như sự ương bướng, gai góc của Thu đã chạm đến ngưỡng chịu đựng của ông Sáu, ông Sáu tuy rất đau lòng, nhưng ông lại che đậy điều đó bằng cách đánh đòn bé Thu để tìm thấy sự sợ hãi, nhân nhượng của cô bé cho dù chỉ là miễn cưỡng.

Thu tuy là cô bé chỉ mới 8 tuổi, thế nhưng khi bị ba đánh đau, bé Thu không khóc, bởi vì cô bé nghĩ quyết không khóc trước mặt người xa lạ. Bé Thu chỉ lẳng lặng chay sang nhà ngoại và khóc với ngoại.

Nút thắt của truyện được tháo gỡ thông qua tình tiết Thu nhất quyết không chịu theo mẹ về, cô bé ngủ lại nhà ngoại và được ngoại giải thích về vết sẹo trên mặt của ba.

Lúc này, tác giả đã miêu tả những chuyển biến trong tâm hồn non nớt của một cô bé 8 tuổi một cách chân thực và hết sức tinh tế. Sau khi Thu hiểu ra mọi chuyện, cũng từ lúc này sự ương bướng, chán ghét đã không còn tồn tại trong Thu.

Giờ đây tình thương ba mới dần hiển hiện rõ ràng trong lòng của bé Thu. Thế nên”nó nằm im, lăn lộn suốt đêm, thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn, nó ân hận rồi căm thù giặc và thương ba nó vô hạn”. Rồi sáng hôm sau Thu bảo ngoại đưa về gặp ba.

Lúc về đến nhà, trước khi ông Sáu đi, tiếng gọi ba lại cất lên vừa ngây thơ, vừa tận trong sâu thẳm tâm hồn trong sáng, khao khát tình ba con của bé Thu. “Nó vừa kêu vừa chạy xô tới dang hai chân ôm lấy cổ ba nó”. “Nó hôn khắp người ông Sáu và hôn cả vết sẹo dài trên má ông.”

Ta có thể thấy, Bé Thu đã hoàn toàn rũ bỏ lớp gai góc, sự ương ngạnh và kiên quyết không nhận ba. Lúc này, tình cảm cha con đang dâng trào trong lòng bé Thu như từng đợt sóng cứ ổ ạt vỗ vào bờ. Bé Thu không muốn xa ba, không muốn ba đi nữa, nó muốn giữ ba bên mình mãi để ba con được đoàn tụ, gia đình bé Thu có đầy đủ cả mẹ lẫn cha.

“Chiếc lược ngà” đã được tác giả đã xây dựng nên cốt truyện đơn giản, bình dị, nhưng các tình tiết vô cùng gay cấn và hợp lý. Cùng với lối sử dụng ngôn ngữ đậm chất vùng miền, giản dị, chân thật, có sức gợi cảm mạnh mẽ, tạo nên những cảm xúc cô đọng nhất trong tâm lý nhân vật, lấy được sự đồng cảm của người đọc với nhân vật bé Thu và những biến đổi tinh tế trong tâm lý của một đứa bé 8 tuổi, cùng với khao khát về tình cha con sâu sắc và cảm động.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 2

Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Nam Bộ, Nguyễn Quang Sáng luôn dành những những trang viết mộc mạc, bình dị cùng giọng văn đậm chất Nam Bộ về con người và cuộc sống ở nơi đây. Mỗi trang viết của ông đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một trong số những tác phẩm như thế. Ra đời trong những năm tháng cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, tác phẩm đã thể hiện thành công tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh éo le. Và qua nhân vật bé Thu sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về tình cảm thiêng liêng, cao quý ấy.

Cũng như bao người khác, Thu là một đứa bé giàu lòng yêu thương cha và bởi vậy, trong cô gái nhỏ bé ấy vẫn luôn hiện hữu khao khát đến ngày được gặp cha, được sà vào vòng tay cha vỗ về, che chở. Và rồi, ngày tháng ấy cũng đã tới sau tám năm dài đằng đẵng xa cách. Những tưởng, Thu sẽ vui lắm, sẽ hạnh phúc lắm mà ôm lấy cha, nhưng không, ngày gặp cha, Thu có một thái độ rất khác thường, trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Ông Sáu xuống bến xuồng, ông dồn hết bao nỗi nhớ thương con vào tiếng gọi thiêng liêng “Thu! Con!” nhưng trước nỗi niềm xúc động ấy của ông Sáu, Thu từ sự ngạc nhiên này sang đến ngạc nhiên khác, “tròn mắt nhìn”, cô bé thấy “lạ quá, chớp chớp mắt” như muốn hỏi là ai rồi vội chạy đi tìm sự giúp đỡ từ mẹ. Trong suốt ba ngày được nghỉ phép ở nhà, ông Sáu luôn cố gắng tìm mọi cách để bù đắp cho con với mong muốn sẽ làm con thay đổi, kiên nhẫn chờ đợi tình cảm từ con. Nhưng đáp lại tình cảm ấy của ông Sáu chỉ có sự lạnh nhạt của Thu, ông Sáu “càng vỗ về con bé càng đẩy ra” và thậm chí cô bé còn tỏ ra ngang ngạnh và ương bướng. Sự ương bướng ấy của Thu thể hiện rõ nét ở việc cô bé nhất quyết không chịu gọi một tiếng ba, lúc cần thiết phải nói thì lại lựa chọn cách nói trống không với ông Sáu. Thậm chí, ngay cả trong những tình huống cấp bách như phải chắt nước của một nồi cơm to thì cô bé vẫn cố loay hoay, tự tìm cách làm chứ nhất định không chịu nhờ tới sự giúp đỡ của ông Sáu. Bé Thu cố từ chối mọi sự yêu thương, vỗ về mà ông Sáu dành cho mình, khi ông Sáu gắp trứng cá vào chén cho bé Thu thì cô bé “liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra”, làm cho cơm văng hết cả ra mâm. Và đỉnh điểm, khi bị ông Sáu đánh, bé Thu không phản ứng gì mà bỏ về nhà bà ngoại. Có thể thấy, bé Thu là một cô bé rất ngang ngạnh, bướng bỉnh nhưng sự bướng bỉnh ấy của cô bé không hề đáng trách. Bởi Thu không nhận ba không phải vì không yêu ba mà bởi trong suốt những năm tháng chiến tranh, cô chỉ nhìn ba qua tấm ảnh để rồi đến ngày gặp gỡ, vết thẹo trên mặt của ông Sáu khiến cho ông khác lạ so với trong ảnh, điều đó khiến bé Thu không nhận ba. Những hành động và phản ứng của bé Thu hoàn toàn là tất yếu, bởi cô bé còn quá nhỏ để hiểu được sự dữ dội và tàn ác mà cuộc chiến tranh để lại.

Nhưng rồi, mọi chuyện đã thực sự thay đổi khi bé Thu được bà ngoại kể cho câu chuyện về vết thẹo trên gương mặt của ba và khi cô bé hiểu ra mọi thứ cũng chính là lúc ông Sáu phải lên đường nhận nhiệm vụ. Hoàn cảnh gặp gỡ ấy đã khiến cho tình cảm cha con có dịp được thể hiện rõ nét và xúc động hơn bao giờ hết. Khác với một bé Thu ngang ngạnh, cau có, bướng bỉnh trong ba ngày trước, hôm nay khuôn mặt bé Thu “sầm lại buồn rầu” và “nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Và khi cô bé bắt gặp ánh mắt buồn rầu của ông Sáu thì “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Có lẽ, giờ đây, bao nhiêu niềm yêu thương cha của cô bé gửi cả vào trong ánh mắt và cô cất tiếng gọi ba – một tiếng kêu đến xé lòng khi ông Sáu khẽ cất lời từ biệt. Không dừng lại ở đó, bé Thu còn chạy tới ôm thật chặt lấy ba, hôn ba và hôn lên cả vết thẹo. Nụ hôn ấy, nụ hôn của tình yêu vô bờ bến và còn là nụ hôn của nỗi nhớ không nguôi. Hơn bao giờ hết, chắc hẳn bé Thu muốn giây phút này sẽ còn lại mãi mãi, để cô có thể được ở cạnh ba, được ba ôm chặt trong vòng tay của mình. Rồi trong phút giây ấy, bô bé cất lời giữ ba ở lại với mình “Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!” Một ước mơ, một lời nói rất đỗi trẻ con nhưng lại chất chứa trong đấy tình cảm sâu đậm của bé Thu dành cho ba, đó là tình cảm thiêng liêng, cao quý. Cô bé chia tay ba với hi vọng ba sẽ tặng cho mình một chiếc lược ngà, để cô luôn cảm thấy ấm áp như có ba luôn bên mình. Như vậy, trong khoảnh khắc chia li, mọi khoảng cách đã bị xóa bỏ, chỉ còn lại ở đó tình cảm sâu đậm mà bé Thu dành cho ba.

Như vậy, truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã miêu tả thành công những biến đổi tinh tế trong tình cảm của bé Thu, qua đó cho chúng ta thấy bé Thu là một cô bé ngang ngạnh, bướng bỉnh nhưng yêu thương ba đến vô ngần. Đồng thời, qua đó cũng cho thấy tình cảm cha con sâu đậm trong cuộc chiến tranh cam go, ác liệt của dân tộc.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 3

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:

“Thêm một người trái đất sẽ trật hơn

Nhưng thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt”

Vượt qua khuôn khổ trật hẹp của câu chữ, câu thơ trên đề cao vai trò, ý nghĩa lớn lao của bậc sinh thành đối với con cái. Thật hạnh phúc biết bao với những ai sinh ra và lớn lên luôn có cha, có mẹ bên cạnh. Nhưng cũng thật bất hạnh biết bao khi ai đó sinh ra trên đời đã thiếu vắng tình cảm của mẹ cha. Và bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một con người phải chịu cái cảnh bất hạnh như thế.

Bé Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương bao bọc của mẹ nhưng lại thiếu đi bóng dáng của người cha. Bởi cha bé Thu – ông Sáu đi lính chiến đấu chống giặc, hai cha con chỉ giao tiếp với nhau, nhìn nhận nhau qua một tấm ảnh chụp. Và sau tám năm dòng xa cách, ông Sáu – cha của bé đi lính trở về khi hòa bình lập lại, niềm khát khao của người cha dâng đầy trong lòng ông, lòng nôn nóng vồ vập mong được gặp con và ôm con vào lòng. Nhưng thật trớ trêu thay, bé Thu lại không nhận ông là cha và tỏ thái độ lảng tránh ông. Cảnh gặp gỡ diễn ra trong phút chốc nhưng cũng khiến người đọc không cầm được nước mắt. Đang chơi ở ngoài sân, từ phía xa xa, bỗng có người gọi tên mình, lại xưng là “ba”, Thu “giật mình tròn xoe mắt”. Nó ngơ ngác, lạnh lùng, mặt tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên “má, má”. Phản ứng đó của bé Thu là phản ứng rất bình thường và hợp lí. Bởi trước mắt bé bây giờ là hai người đàn ông hoàn toàn xa lạ. Từ khi mới lọt lòng, bé chưa hề biết mặt cha ngoài đời ra sao, tình cảm cha con chỉ được thông qua một tấm ảnh chụp với má nó, nay bỗng có người có một vết sẹo dài trên mặt lại giần giật đỏ ửng lên trông thật dễ sợ (khác với ảnh chụp chung với má) lại xưng “ba”, gọi mình là ‘con” nên phản ứng của bé chạy vụt đi và thất thanh gọi mẹ là điều rất dễ thông cảm. Chẳng phải người lớn vẫn dặn dò con trẻ, không được nghe theo lời người lạ, bởi đó là những ông ba bị chuyên đi lừa và bắt cóc trẻ con hay sao?. Vì thế phản ứng của bé Thu là một thái độ vô cùng chân thực của một đứa trẻ ngây thơ, bé bỏng.

Ba ngày được nghỉ phép ở nhà, ông Sáu dồn hết tìn cảm của người cha cho bé Thu. Ông tìm mọi cách để vỗ về, chiều chuộm con chỉ để nghe một tiếng gọi “ba” của con bé. Nhưng ông càng gần con, bé Thu lại càng xa lánh, thậm chí là phản ứng quyết liệt: Khi mẹ bảo gọi ba vào ăn cơm hay chắt nước nồi cơm to đang sôi sùng sục trên bếp, bé chỉ nói trổng, nói trống không. Khi ông Sáu gắp cái miếng trứng cá vào chén của bé thì bé lấy đũa soi soi vào chén rồi bất thần hất miếng trứng cá ra ngoài, làm cơm bắn tung tóe ra cả mâm. Bị cha đánh đòn, bé không khóc mà chạy sang nhà ngoại, cố ý khua dây cột xuồng cho thật to. Bé Thu thật là bướng bỉnh, cứng đầu và gan lì. Đến bác Ba – người ngoài cuộc cũng phải nghĩ “con bé đáo để thật”, còn ông Sáu thì không nén được tức giận nên đánh và quát con “Sao mày cứng đầu quá vậy?”. Tuy nhiên, thái độ của bé thu hoàn toàn không đáng trách. Bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé bỏng để có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng chưa kịp giả thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết sẹo trên mặt kia là ba của mình. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé dành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi.

Trong đêm bỏ sang nhà ngoại, Thu được bà giải thích về vết sẹo dài trên má của ba đã làm thay đổi cả khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ được giải tỏa, con bé nằm im nghe bà kể rồi “thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Vì thế, suốt cả một đêm bé không ngủ được, có lẽ vì cảm thấy ân hận và nuối tiếc đã đối xử không tốt với cha mình. Buổi sáng chia tay ấy, trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”. Khi đối diện với ông Sáu, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xôn xao”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người ông Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là biểu hiện của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận ra cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận ra cha sớm hơn chút nữa… Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…

Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Đồng thời, người đọc cũng thấy được Nguyễn Quang Sáng là nhà văn rất am hiểu tâm lí và yêu thích trẻ thơ nên mới có những trang văn thật sinh động và cảm động về tình cha con đến như vậy!.

Tóm lại, qua hình tượng nhân vật bé Thu, chúng ta thấy thật sự thấm thía xót xa và cảm động trước tình cảm cha con họ dành cho nhau. Dù khoảng cách của chiến tranh, của không gian và thời gian sau tám năm ròng xa cách vẫn không thể nào giết chết được tình cảm mà cha con họ hướng về nhau, để rồi khi gặp gỡ, tình cảm bất thử thiêng liêng ấy trỗi dậy mạnh mẽ, khiến người đọc cũng phải cảm động mà rơi nước mắt. Chẳng thế mà, trước khi ông Sáu hi sinh, dù không còn đủ sức trăng trối lại điều gì nhưng tình cảm cha con là không thể chết được, ông Sáu đã rút chiếc lược trong túi áo ra mà đưa cho ông Bà, như muốn nhắn nhủ lời gì đó mà ông không thể cất được thành lời. Và sau ba năm ông Sáu mất, lúc này bé Thu đã trở thành cô giao liên xinh đẹp, dũng cảm, nhận được chiếc lược ngà mà ông Ba đưa cho, lòng cô không kìm được lòng mình. “Hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt”. Và những giọt nước mắt ấy của Thu là giọt nước mắt cho tình phụ tử sâu nặng, bất biến, vĩnh hằng!.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 4

Chiếc lược ngà là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Với cảm hứng viết về tình cha con và nỗi đau do chiến tranh, chuyện đã để lại cho người đọc những rung động thấm thía. Đặc biệt là diễn biến tâm lý và tình cảm tính cách của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về thăm nhà.

Bằng nghệ thuật kể chuyện mang phong cách Nam Bộ với những tình huống bất ngờ. Tác giả đã để cho một nhân vật kể về nhân vật chính nhằm làm cho câu chuyện thêm khách quan và tin cậy. Đó là cách kể chuyện lồng trong chuyện, từ đó ta thấy rõ được những diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu.

Bé Thu là một cô bé có cá tính độc đáo mạnh mẽ. Bởi xa cha biền biệt và cũng chỉ vì một vết sẹo mà em vô tình không nhận ra cha, khi nhận ra cha thì mãi mãi em phải xa cha. Tình thương nỗi đau và sự uất hận đã giúp bé Thu sau này trở thành cô giao liên dũng cảm.

Cha đi chiến đấu biền biệt xa nhà. Đến khi Thu lên tám tuổi hai cha con mới được gặp lại nhau. Cô bé tóc ngang vai, mặc quần đen, áo hoa đỏ, hồn nhiên, xinh đẹp, mới nhìn ông Sáu đã nhận ra ngay con gái mình. Nhưng niềm vui sau bao năm xa cách là được gặp lại con thì thật trớ trêu đáp lại sự vồ vập ấy của người cha bé Thu tỏ ra ngờ vực lảng tránh. Bé Thu hốt hoảng, mặt tái đi, vụt chạy kêu thét lên, nói trống. Trong suốt ba ngày ở bên cha bé Thu đã không nhận ra cha của mình, bé ương ngạnh, cư xử vùng vằng. Bé nhất định không nhờ ông Sáu chắt nước nồi cơm, nó hất cái trứng cá mà ông gắp cho. Bị ông Sáu đánh nó bỏ về nhà ngoại khua loảng xoảng dưới xuồng. Đó là thái độ rất ương ngạnh của một đứa bé mới tám tuổi. Nhưng thái độ đó không hề chê trách được bởi tất cả vì chiến tranh. Chiến tranh đã gây ra những mất mát và đau thương. Mà một đứa trẻ như Thu còn quá bé bỏng để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le mà ngay cả người lớn cũng không kịp chuẩn bị cho nó. Chỉ vì một vết sẹo trên mặt người cha cộng với bức ảnh mà nó biết về cha, nó đã không nhận cha. Vết thương do chiến tranh đã trở thành vết thương lòng sâu nặng của tình cảm cha con.

Ngày cuối cùng, trước phút giây ông Sáu lên đường, thì tình cảm thiêng liêng của bé Thu dành cho cha đã bùng cháy. Mọi thái độ và hành động của bé Thu bỗng đột ngột thay đổi. Khi nhìn thẳng, đối diện với người cha “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Đằng sau đôi mắt mênh mông ấy chắc đang xao động biết bao ý nghĩ, tình cảm. Lần đầu tiên bé cất tiếng gọi “Ba…ba” và tiếng kêu như tiếng xé “chạy nhanh như sóc ôm lấy cổ ba nó” cùng với cử chỉ hôn khắp mọi nơi: nó hôn tóc hôn cổ, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba. Tâm lý ngờ vực chỉ vì vết sẹo đã được giải tỏa. Vì thế trong phút chia tay với cha tình yêu và nỗi mong nhớ suốt bao năm trời bị dồn nén nay trở nên mạnh mẽ và có cả sự hối hận. Cảnh tượng ấy diễn ra xúc động trong lòng mọi người. Và khi ông Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu đã hét lên là “không”, rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp lấy ba, đôi vai nhỏ run run. Chắc cô bé đã khóc, khóc vì sự ân hận của mình đã không nhận ra cha, khóc vì xót thương người cha vì chiến tranh mà phải xa gia đình.Chỉ vì bom đạn quân thù, mà ba đã mang sẹo trên mặt. Đó là điều đau khổ.Vậy mà, bé Thu đã không hiểu, lại còn xa lánh cha khiến cha đau khổ. Được bà ngoại giảng cho, bé đã hiểu. Nhưng có lẽ khi bé hiểu ra thì… muộn rồi. Cha bé đã phải xa gia đình trở về chiến trường, phải chịu bao gian khổ của mưa bom bão đạn. Vì vậy, mà bé Thu mới siết cổ cha, níu chặt lấy người cha, như muốn đền bù những hành động sai lầm của bé. Từ giây phút bé thu thức tỉnh, tình cảm tính cách của bé đã thay đổi sự ương ngạnh của cô bé tám tuổi đã không còn, mà thay vào đó là tình yêu cha, thương cha, tự hào về cha. Cuộc chia tay của bé Thu trong những giây phút cuối cùng này có ai biết được rằng đó là cuộc chia tay lần cuối là lúc cha xa em vĩnh viễn, không thực hiện lời hứa “ba đi rồi ba về với con”. Nhưng lòng yêu cha thành kính đã tạo nên một sức mạnh thôi thúc, rèn giũa để Thu trưởng thành sau này, khi cô trở thành một chiến sĩ giao liên gan dạ, dũng cảm.

Tóm lại, qua diễn biến tâm lý của bé Thu ta thấy được bé là người có tình cảm mạnh mẽ, sâu sắc, hồn nhiên, ngây thơ. Cá tính ấy của bé được tập trung thể hiện trong tình cảm cha con đằm thắm. Nhân vật bé Thu đã để lại trong ta những ấn tượng sâu đậm về tình cảm mà bé dành cho cha. Người đọc thêm yêu mến bé Thu với tình cảm mạnh mẽ ấy.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 5

Benjamin Franklin từng cho rằng: “Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến, hóa đơn sẽ đến sau đó.” Cái giá của chiến tranh không chỉ đắt đỏ và dã man khi nó xảy ra, mà hậu quả của nó là vết thương rỉ máu hàng thập kỉ sau đó nữa. Và có lẽ một trong những nhân vật khắc họa rõ nét vết thương, vết sẹo luôn bỏng rát của chiến tranh là nhân vật bé Thu trong tác phẩm truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966.

Không lựa chọn chất liệu là sự kịch liệt, đẫm máu trên chiến trường miền Nam như nhiều tác phẩm khác, Nguyễn Quang Sáng khai thác một khía cạnh khác của chiến tranh, một nỗi niềm tang thương cá nhân khác của những người nơi hậu phương, chưa một lần được trọn vẹn bên người cha, người chồng hay người con của mình. Bé Thu là nhân vật đại diện cho sự mất mát, thiếu thốn ấy. Khi bé Thu chỉ vừa mới một tuổi, ba em – ông Sáu đã phải đi kháng chiếc và xa nhà. Đây là hoàn cảnh chung của hầu hết gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến, có lẽ họ không chỉ tiễn người thân mình đi một hai lần mà là rất nhiều lần, từ người nọ đến người kia. Dù vậy, già trẻ gái trai, mặc kệ, họ đều quyết tâm ra đi để tìm được cống hiến cho tổ quốc thân thương, như Tố Hữu đã từng ca ngợi tinh thần ấy:

Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành”

Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi người ba của mình, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Ông Sáu trở về thăm gia đình, nhưng gương mặt ông giờ đây đã nhiều theo một vết thẹo khiến bé Thu có những phản ứng làm cho cả ông lẫn người đọc cảm thấy hụt hẫng, bất ngờ. Trước tiếng gọi đầy thân thương mà gan ruột từ xa của ông Sáu “Thu! Con.” bé Thu “tròn mắt ngơ ngác nhìn lạ lùng”. Chỉ một ánh mắt, một cử chỉ cũng đủ để thấy sự xa cách giữa người và người, mà có lẽ ta phải dùng đến từ “người dưng” mà Nguyễn Duy đã dùng trong “Ánh trăng”. Khi ông Sáu đưa tay về phía nó, nói liên tiếp: “Ba đây con! Ba đây con!” thì nó lại có một phản ứng vô cùng quyết liệt “mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má!” Từ đó tạo nên hai luồng tâm lý đối lập nhau gay gắt giữa ông Sáu và bé Thu, một bên là sự vồ vập, cuống quýt của một người ba vì đã ngóng chờ con bao lâu nay, còn một bên là sự đáp trả thờ ơ, lạnh lùng, hoảng sợ của bé Thu, cốt bởi tình yêu dành cho người “ba” của nó quá to lớn. Đây chính là khởi đầu éo le dẫn đến mâu thuẫn phức tạp giữa hai cha con.

Sự ương ngạnh, bướng bỉnh của bé Thu thể hiện rõ rệt trong 3 ngày nghỉ phép của ông Sáu ở nhà. Mặc cho ông muốn lại gần con bé bao nhiêu, nó lại càng đẩy ông ra xa, nhất quyết không chịu gọi ông là “ba”. Nó luôn tìm cách nói trổng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi nó phải chắt nước ra khỏi nôi cơm to đang sôi, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, tâm lý bối rối của một đứa trẻ tám tuổi hiện lên mồn một. Một là nó phải chịu khuất phục và gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ôi, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng, trừ khi họ có thứ quý giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đỏi. Và với bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng “ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ chỉ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Nó càng yêu “người ba” của nó bấy nhiêu, thì nó càng ngang ngược, lạnh nhạt với người ba thực sự đang ở trước nó bấy nhiêu. Vì yêu, vì kính trọng nên càng không thể đem ra để đối lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thực sự mà nó được biết tới. Dù biết sẽ nguy hiểm, sẽ khó khăn, nó vẫn dùng cái vá để múc từng vá nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàng.

Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn một mực cứng rắn, không tiếp nhận tình cảm ông dành cho nó. Trong bữa cơm cuối cùng với ông Sáu, bữa cơm mà nó có lẽ sẽ hối hận suốt đời, ông Sáu âu yếm thể hiện tình cảm của mình bằng cách “gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó”. Nó đã phản ứng mạnh mẽ có phần thái quá, nó lấy cái đũa hết cái trứng ra khỏi chén làm cơm văng tung tóe cả mâm. Hành động ấy như thách thức giới hạn của ông Sáu – người vốn vì thương con nên đã rất bao dung, nhẫn nại và cả người đọc. Nhưng nếu đã đọc hết tác phẩm và thực sự đặt mình vào vị trí của một cô bé tám tuổi, ta mới có thể mở lòng và cảm thông được cho hành động này. Cách biểu hiện tình cảm và bảo vệ với hình tượng người cha trong lòng của bé Thu chỉ thật bộc trực, trực tiếp, thậm chí là hồn nhiên đến mức đáng giận của cô bé. Đối với cô bé, sự xuất hiện của ông Sáu như đang đe dọa đến hình tượng của người ba trong bức ảnh mà cô bé vẫn luôn ấp ủ trong lòng bấy lâu, một đứa trẻ tám tuổi sao có thể kịp thích nghi với những thay đổi bất thường lớn như thế trong cuộc đời chúng? Càng giữ khoảng cách với ông Sáu tức là càng giữ được nguyên vẹn hình ảnh người cha trong tâm trí nó, và đó cũng là cách duy nhất. Sự cương quyết, dữ dội kia thực chất chỉ là hình hài khác của một tình yêu cha vô cùng mãnh liệt.

Sự bướng bỉnh, gai góc ấy còn ươm mầm cho phẩm chất kiên cường, mạnh mẽ của cô giao liên trong tương lai. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã lột tả rõ nét chân dung của một cô bé tám tuổi có cách thể hiện tình cảm thiêng liêng, chân thành dành cho ba mình một cách vô cùng đặc biệt, độc đáo. Ở bé Thu, người ta nhìn thấy bóng dáng của Việt trong “Những đứa trẻ trong gia đình” hay Tnú trong “Rừng Xà Nu”. Nó tạo nên một vẻ đẹp kiên cường, gan góc của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến, cái vẻ đẹp “đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!” mà Đặng Thùy Trâm đã viết trong nhật ký của mình: “Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước. Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ Tuổi trẻ của mình đã thấm đượm mồ hôi, nước mắt, máu xương của những người đang sống và những người đã chết. Tuổi trẻ của mình đã cứng cáp trong thử thách gian lao của chiến trường, tuổi trẻ của mình cũng đã nóng rực vì ngọn lửa căm thù đang ngày đêm hun đốt. Và gì nữa, phải chăng mùa xuân của tuổi trẻ cũng vẫn thắm đượm thêm vì màu sắc của mơ ước và yêu thương vẫn ánh lên trong những đôi mắt nhìn mình.” Hay như khi nhà thơ Nam Hà cũng đã viết “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”:

“Đất Nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt”

Người đọc chỉ thực sự thấm thía tình cảm ẩn sau sự xù xì của bé Thu dành cho ba khi nó được bà giải thích về sự thay đổi của ba mình do chiến tranh. Vết thẹo đã khiến bé Thu không thể nhận ra người ba trên tấm ảnh chính là ông Sáu. Chi tiết vết thẹo cũng mang tính mấu chốt như chi tiết chiếc bóng trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của nhà văn Nguyễn Dữ. Vì vết thẹo mà nó không nhận ra người ba đáng kính mà nó hằng khao khát được đoàn tụ. Đêm hôm ấy, cái đêm được nghe bà gỡ rối, “nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Tình cảm trong nó dành cho ông Sáu được nhen lên mạnh mẽ, nó cũng biết ăn năn, day dứt, hỗn loạn trong đó là tình yêu to lớn nó dành cho ba và sự ngưỡng mộ.

Sáng hôm sau, lẫn lộn với niềm vui nhận ra ba là sự tủi thân dâng trào cùng nỗi buồn xa xôi của nó trong ngày ông Sáu phải trở về chiến trường. Bởi những phản ứng quyết liệt trước đây mà giờ đây nó ngại ngần, xấu hổ, chỉ dám đứng tựa cửa nhìn mọi người vây xung quanh ba nó. Mọi thứ nhanh và dào dạt đến độ nó chưa kịp cảm thấy tiếc nuối vì đã bỏ lỡ khoảng thời gian vốn đã ngắn ngủi với ba nó thì còn lại đã chỉ là một mảnh hỗn loạn bị bác Ba bắt gặp qua đôi mắt của nó: “Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.” Từ “xôn xao” vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của bé Thu. Nó bao la, lạc lõng và lẻ loi kì lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm nó tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa.

Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi dồn cả vào tiếng “ba” ấy. Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi “ba” ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. “Nó nhanh như một con sóc chạy tót lên và dang 2 tay ôm cổ ba nó. Nó vừa ôm vừa nói trong tiếng khóc:

– Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!”

Rồi nó hôn ba nó: hôn tóc, hôn vai, hôn cả lên vết thẹo dài. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con nó, giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vội vàng, vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha co bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa, chẳng biết bao giờ mới quay trở lại. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua của nó mà còn xuất phát từ nỗi sợ sệt sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí là lần cuối bé Thu được gặp ông Sáu. Những cái hẹn trở về không rõ ngày nhưng người ta vẫn nguyện chờ mong, hi vọng vì đó là cách duy nhất thắp lên ánh sáng và chỉ có thế ngày hẹn ấy mới thành hiện thực. Nó chợt khiến ta nhớ lại cảnh đoàn tụ xúc động của bé Hồng với mẹ mình trong văn bản “Trong lòng mẹ”. Sau cuộc chia tay ấy, đáng trân trọng hơn cả là khi bé Thu đã noi gương theo người cha đáng kính, trở thành người chiến sĩ quả cảm viết tiếp những trang sử vẻ vang, vàng son của Việt Nam. Sự kế thừa ấy đã được đã được Hoàng Trung Thông kết tinh thành những câu thơ:

“Ta lại viết bài thơ trên báng súng
Con lớn lên đang viết tiếp thay cha
Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua.”

Giây phút chia tay trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của hai cha con ông Sáu và bé Thu tuy ngắn ngủi nhưng đã phản ánh được tư tưởng nhân văn sâu sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, cũng như cách nhà thơ Trần Đăng Khoa nhắc đến ông là hoàn toàn đúng đắn: “Đọc Nguyễn Quang Sáng, không hiểu sao, tôi cứ hình dung nhà văn có nét gì đó của một người nông dân Nam Bộ ngang tàng, coi những chuyện nguy hiểm chết người cũng bông phèng như trò chơi con trẻ, có thể chống xuồng lao ve vé giữa lúc bom đạn đang vây bủa mù mịt, cũng có thể ngồi thì lì trong một cái quán rượu tạm bợ, dựng tồng tềnh bên vệ cỏ, ngoảnh ra phía sông nước mà nhậu lai rai, nhậu tối ngày. Con người ấy hình như vừa đơn giản, lại vừa phức tạp đến bí hiểm. Hình như đó là một phần của thiên nhiên Nam Bộ, do thiên nhiên chắt ra, bởi thế có lúc hồn nhiên như cỏ dại, có lúc ương ngạnh như vách đá.” Bằng chất văn mộc mạc, thân thương, chân thực, ông đã “chạm tới những rung động vi nhiệm của tình yêu” và hơn hết, ông vẽ bức tranh về chiến tranh không phải bằng máu của những người lính ngã xuống mà bằng nước mắt của những người còn ở lại. Hình ảnh nhân vật bé Thu của ông như gói gọn cả quá khứ, hiện tại và thậm chí là tương lai của đất nước. Dù chiến tranh tàn phá rất nhiều thứ nhưng nó vĩnh viễn không thể tàn phá được trái tim con người.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 6

Có thể nói được rằng chính tình cảm thiết tha, gắn bó – tình cảm gia đình được xem như là một đề tài quan trọng của văn học Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến, đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ. Minh chứng cho thấy trong những thời kỳ này có rất nhiều tác phẩm nổi danh đó chính là “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”. Nhưng “Chiếc lược ngà” vẫn là một tác phẩm nổi trội hơn cả, làm lên sự thành công đó chính là nhân vật bé Thu.

Tác phẩm “Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966 rồi được đưa vào tập truyện cùng tên của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện dường như cũng đã như được xây dựng trên một tình huống hiểu lầm đã có thể đạt được một hiệu quả nghệ thuật cao. Chính sự hiểu lầm như đã tạo nhiều bất ngờ cảm động. Đó là nhân vật anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi.

Và dường như cũng từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc thì lúc này đây anh trở về, nhưng đáng nói là cái đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Ba ngày trở về dù tìm đủ mọi cách đi chăng nữa thì con bé vẫn không gọi cha.

Cho đến ngày cuối cùng thì tình cha con mới mãnh liệt, bé Thu đã gọi ba và ôm chặt lấy cha không cho cha đi. Ông Sáu xúc động và trong những ngày chiến đấu ở chiến trường ông vẫn không nguôi nhớ về con và kỳ công làm cho con chiếc lược ngà đẹp. Và trớ trêu ông Sáu hi sinh khi vừa kịp dặn dò người đồng đội của mình đưa món quà – chiếc lược này cho bé Thu.

Người đọc quả không quên được bé Thu với tính cách bướng bỉnh, gan góc và rất có cá tính. Dường như chính trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà bé Thu đã được biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó dường như cứ nhất quyết không chịu nhận ông Sáu là ba dù cả nhà – trong đó có bà nội – thừa nhận điều đó. Họ dường như cũng đã đón ông với tất cả tấm lòng chân thành, yêu thương của con người Nam Bộ.

Và điều đó như chẳng những thế, ông còn vô cùng xúc động khi gặp nó. Nhưng dường như ông đã bỏ qua tất cả, Thu vẫn hét lên sợ hãi khi ông Sáu lập cập đến với nó và lắp bắp gọi trìu mến rằng: “Thu! Ba đây con…”. Dường như ta thấy được có điều đó bởi Thu thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo đáng sợ kia trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má làm nó không nhận ba.

Không chỉ vậy, chính với việc mà đã qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu Nguyễn Quang Sáng dường như cũng đã như vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Đặc biệt hơn đó chính là khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm”, Thu lúc này lại gọi “trổng” “vô ăn cơm”.

Cho dù rằng là nồi cơm sôi, không tự chắt được nhưng bé Thu vẫn ương ngạnh nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Tất cả những hành động của bé Thu như khước từ mọi sự quan tâm của ông Sáu, ông Sáu cũng rất buồn vì chỉ có 3 ngày ngắn ngủi muốn quan tâm con mà nó lại không nhận ba.

Có thể thấy được cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Cô dường như cũng đã nghĩ rằng “người ta” mang đến cho mình một người “ba giả”! Và chính vì thế, bé Thu lúc này dường như lại càng phản đối quyết liệt người “ba giả” ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu.

Người đọc như thấy được cái tình yêu ấy thật sâu sắc biết nhường nào. Bởi nó dường như cũng chỉ có một, mà dường như lại không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, hay đó cũng chính là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.

Và đặc biệt hơn khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên điều này. Cho đến buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó, vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sẩm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương.

Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Và quả thật bất ngờ khi không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước.

Lúc này ông Sáu nói: “Ba đi nghe con” thì bé Thu bất ngờ lao đến thét lên một tiếng gọi như thật vỡ òa ra: Ba., a… a…ba! Rồi ôm chặt lấy ông nức nở rằng “Con không cho ba đi”. Đến đây, quả thật rằng những người đọc chúng ta mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. Có thể thấy được chính “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa.

Đó dường như cũng chính là những tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay. Và đó cũng chính là những tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó dường như cũng đã chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”

Bé Thu quả thật là một đứa trẻ giàu tình cảm. Nhưng cũng thật dễ hiểu vì nó yêu ba nên nó không chấp nhận một ai khác lại nhận làm ba nó. Nhất là khi người ba trong tâm trí nó là bức ảnh để lại, ba nó không có vết thẹo kia. Khi đã hiểu được mọi chuyện thì cảm xúc mới vỡ oà như vậy.

Có thể nhận thấy được chính trong quá trình thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật bé Thu có một chi tiết vô cùng quan trọng đó chính là chi tiết cái thẹo. Chính cái thẹo được đánh giá chính là một nguyên nhân gây ra những hiểu lầm trong tình cảm của cha con mà Thu dành cho ba.

Cái thẹo dường như cũng chính là vết thương mà giặc Mĩ gây ra cho ba Thu. Ta dường như có thể thấy được những sự chia cắt gia đình không chỉ riêng gia đình bé Thu mà còn hàng triệu gia đình người Việt cũng là do giặc Mỹ gây ra. Khi mà đã thấu hiểu sâu sắc điều đó, sau này, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm cũng như cha của mình.

Quả thực nhân vật bé Thu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng người đọc chúng ta biết bao nhiêu là những ấn tượng sâu sắc bởi một tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật này dường như cũng đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Và cũng chính vì vậy, cùng với tác phẩm, nhân vật bé Thu đã giành được một vị trí riêng trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Việt Nam từ trước đến nay.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 7

Nhắc đến chiến tranh, người ta thường nghĩ đến những mất mát và sự khốc liệt của nó mang đến. Chiến tranh không chỉ có thế, nó không chỉ là nơi con người nhận ra sự tàn khốc mà trên mảnh đất chết ấy vẫn mọc lên những bông hoa thật đẹp về tình cảm gia đình. Nguyễn Quang Sáng đã cho chúng ta thấy giữa sự đau thương vẫn còn đau đáu nỗi niềm của tình thâm, giữa cuộc tiễn đưa vẫn ngời sáng vẻ đẹp của mỗi cá nhân trong trận chiến sống còn. Và hơn hết Chiếc Lược Ngà đã vẻ nên một chân dung cô bé Thu cá tính, vừa trẻ con lại vừa mang đáng yêu của một đứa bé hiểu chuyện. Bé Thu cùng với người cha của mình đã làm nên một cảnh ngộ éo le đầy cảm động.

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn chuyên viết về cuộc sống và con người Nam Bộ với rất nhiều thể loại khác nhau như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch,.. Tác phẩm “Chiếc lược ngà” được sáng tác vào năm 1966 tại chiến trường miền Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt. Truyện thể hiện thật thấm thía, cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Qua đó, chúng ta thấy được tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật khắc họa miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật khéo léo của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Câu chuyện lấy điểm nhìn từ nhân vật tôi, cũng là người bạn của anh Sáu, một nhân vật đồng hành cùng anh Sáu trong chuyến về lại nhà của một người cha biền biệt con bảy, tám năm trời. Điểm trần thuật này giúp nhà văn có cách nhìn khách quan về nhân vật và thông qua ông Ba, nhà văn truyền tải được thông điệp trong tác phẩm. Câu chuyện kể về hoàn cảnh của anh Sáu và bé Thu đoàn tụ sau tám năm xa cách. Ngày từ chiến trường trở về, con bé không nhận anh là cha vì vết sẹo in dài trên má. Đến lúc bé Thu hiểu ra mọi chuyện thì anh Sáu lại phải lên đường. Niềm vui đoàn viên chưa trọn vẹn kéo theo những nỗi luyến tiếc khắp chặng đường hành quân sau đó. Ở khu căn cứ, anh dành tất cả tình cảm yêu thương tỉ mỉ mài khúc ngà voi thành chiếc lược định bụng sẽ làm quà tặng nhân ngày trở về. Thế nhưng mong muốn ấy đành dang dở vì bom đạn kẻ thù đã hạ gục anh giữa rừng cùng chiếc lược ngà gửi lại đồng đội mang về cho con. Đọc Chiếc lược ngà, ta mới cảm nhận được tình cảm gia đình đặc biệt là tình cảm cha con cao đẹp đến nhường nào. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng mà không một thứ bom đạn nào có thể tiêu diệt được.

Nhà văn đặt bé Thu vào một cảnh ngộ éo le khi Thu chưa tròn tám tuổi. Thu xa cha từ khi còn rất bé, chỉ biết cha mình qua tấm ảnh. Cũng vì hiểu lầm trẻ con mà không nhận cha để rồi sau đó chợt hiểu ra tất cả thì cũng là lúc ông Sáu lên đường. Cái hay của tác phẩm là khi viết về tình phụ tử, nhà văn không những không khiến nét riêng từ nhân vật bị mờ đi trong tình cảm lớn mà còn tô đậm nét tính cách riêng của nhân vật mình. Bé Thu không chỉ xuất hiện trong vai trò một đứa con hết mực yêu thương cha mà còn là một cô bé bướng bỉnh, cá tính mạnh nhưng cũng trẻ con, hồn nhiên đến đáng yêu. Tình cảm ấy, tính cách ấy thể hiện ở hai hoàn cảnh trái ngược nhau trước và sau khi bé Thu nhận ba mình.

Trước khi nhận ra anh Sáu là ba, bé Thu trong mắt người đọc là một cô bé có cá tính bướng bỉnh pha chút trẻ con nhưng lại rất đáo để. Chính sự ương bướng của một đứa trẻ lên bảy đã làm ra những hành động như xát muối vào lòng người cha đợi chờ gặp con trong bảy, tám năm trời dài đằng đẵng. Chiến tranh có ác liệt đến mấy, đoạn đường có xa gấp mấy anh Sáu không biết từ nan. Trên chiến trường người cha như anh là một anh hùng thì nay lại trở thành một người cha bất lực khi đứng trước sự chối từ một cách phũ phàng của con gái mình. Bé Thu đáp lại tất cả sự mong mỏi của ba mình bằng thái độ ngạc nhiên, sửng sốt. Trái với nỗi nhớ mong như thiêu như đốt trong lòng ba mình, bé Thu tỏ ra hờ hững. Giá mà Thu hờ hững như đối với một người không quen thì anh Sáu cũng đâu quá đắng cay. Đằng này Thu còn tỏ ra sợ hãi khi nhìn thấy anh. Bé Thu vụt chạy gọi “má, má”. Phút đầu tiên ấy, Thu đâu biết được rằng cánh tay người cha buông thõng, nét mặt sa sầm thất vọng.

Ba ngày ở lại nhà, anh Sáu đã cố tình dành hết thời gian bên con, mọi người trong gia đình cũng tạo ra những tình huống để bé Thu được gần bên cha. Bao nhiêu lần mọi người và chính anh Sáu đã tạo cơ hội để Thu gọi một tiếng “ba”. Vậy mà bấy nhiêu lần khiến anh thất vọng. Thu thể hiện rõ mình là đứa trẻ cố chấp, điều này không phải vì Thu không thương ba, không hiểu chuyện mà vì Thu đã có suy nghĩ riêng mình. Con bé tôn thờ hình tượng một người cha trong tấm hình cũ. Con bé thương người cha trong ấy bằng một tình yêu duy nhất và không ai có thể thay thế được. Thử hỏi đứng ở tâm lý của một đứa trẻ đã bắt đầu có những tính cách nhất quán của người lớn nhưng cơ bản vẫn trẻ con thì khó mà chấp nhận mở lòng với một người đàn ông xa lạ, tự dưng đến nhà mình rồi bảo mình gọi là ba. Càng quan tâm đến những chi tiết nhỏ trong truyện, càng thấy Nguyễn Quang Sáng đúng là một nhà văn tinh tế. Tinh tế ngay cả với sự chuyển biến tâm trạng, thái độ và cử chỉ.

Bé Thu bất chấp mẹ doạ đánh, bắt Thu phải gọi ba vô ăn cơm, Thu kiên quyết không thốt lên tiếng gọi thiêng liêng ấy. Thu vẫn nói trống không “con kêu rồi mà người ta không nghe”. “Người ta” là danh xưng mà Thu gọi ba mình. Không phải là tiếng gọi ba hay cha mà nó được định danh bằng hai tiếng hờ hững “người ta”. “người ta” mà con bé nói chắc đã nghe được câu chuyện và cũng đã đau lòng biết mấy khi đối với con gái trong lúc này, bản thân chẳng khác nào một người dưng. Thế nên anh Sáu mới không thể khóc được mà “chỉ khe khẽ lắc đầu cười”. Cái lắc đầu bất lực, nụ cười héo hắt khi biết rằng trong mắt con, anh chưa phải một người cha. Nỗi khổ sở của anh cũng khó mà có thể cười hay khóc. Thêm một tình huống khó khiến Thu phải lưỡng lự. Má bảo Thu cơm sôi thì gọi ba chắt nước giùm. Một đứa trẻ lên bảy đối diện với hoàn cảnh sắp sửa bị la rầy nếu như để nồi cơm nhão trong khi bản thân không thể tự làm thì chỉ cần gọi tiếng ba là có thể giải quyết vấn đề. Vậy mà Thu cố chấp đến cùng. Thu lờ đi gợi ý của ông Ba, chẳng cần bận tâm đến nỗi mong chờ nằm dài trên khuôn mặt người cha, Thu vẫn giữ thái độ ban đầu, con bé gọi trỏng “cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái”. Đâu chỉ có bao nhiêu, Thu tiếp tục thêm chút đắng cay vào trong lòng ba mình bằng việc chối từ một cách thẳng thừng cái trứng cá mà ba đã gắp cho trong bữa cơm. Một đứa trẻ thông thường sẽ vô tư đón nhận sự quan tâm của người lớn, sẽ thích thú khi được cho trứng cá vì đó là phần ngon của cá. Tuy nhiên một đứa trẻ bướng bỉnh như Thu sẽ không thể cứ mặc nhiên mà đón nhận tình cảm của bất cứ người đàn ông nào khác ngoài người mà Thu nghĩ là ba.

Trong suy nghĩ của Thu, nếu như vô tư ăn trứng cá kia, mặc nhiên mà đón nhận đồng nghĩa với việc chấp thuận ông ấy là ba mình. Cuộc chiến giữ vững suy nghĩ của Thu vẫn kiên quyết đến cùng. Bức thành trì mà một đứa con gái cá tính tạo nên đâu dễ vì cái trứng cá mà sụp đổ. Vì nóng ruột, vì nỗi chờ đợi không còn hy vọng và cũng vì bất lực mà anh Sáu đã đánh con, điều này khiến anh day dứt mãi. Thời gian không còn nhiều mà Thu vẫn chưa nhận ra ba, xem như mục đích về thăm lần này đã không đạt được một nửa. Éo le hơn là cuộc chiến vẫn còn trước mắt, anh Sáu còn chưa biết mình đi hay ở. Trong hoàn cảnh của chiến tranh ác liệt, giây phút gặp gỡ nào cũng có thể là giây phút sau cùng. Thấm thía được điều đó nên anh Sáu quý trọng từng khoảnh khắc bên con. Vậy mà…Bé Thu bị đánh đau nhưng không oán trách cũng không khóc lóc. Con bé lặng lẽ bỏ lại trứng cá vào chén cơm rồi sang bên nhà ngoại. Chi tiết Thu cố tình khua dây xuồng thật kêu để báo cho mọi người biết mình đi lại đúng thật là tâm lý của một đứa trẻ.

Dù không khóc đó nhưng Thu vẫn báo rằng mình đi vì mình giận. Thu vẫn mong muốn được chú ý, được sự quan tâm của người lớn như bất cứ đứa trẻ nào. Đọc đến đây, tuy có chút đồng cảm với anh Sáu và thương cho một người cha chưa tròn ước nguyện nhưng cũng không vì thế mà nỡ ghét bỏ Thu. Suy cho cùng mọi sự cố chấp của Thu cũng xuất phát từ tình yêu thương, kính trọng đối với một người cha mà em tôn thờ. Sự kiên quyết không cần suy xét lý do của một đứa trẻ không cho phép Thu gọi ai là “ba”. Người đàn ông có vết sẹo dài trên mặt và người cha trong trí tưởng tượng của Thu hoàn toàn khác nhau.

Đến đây, có lẽ anh Sáu đã hết hy vọng con mình gọi tiếng “ba”. Ngày chia tay đã đến, bé Thu còn cả đêm ngủ bên nhà ngoại. Cả cơ hội ngắm đứa con đáng yêu nằm ngủ ngon, Thu cũng không cho ba mình. Trong lúc mọi người trao cho nhau những cái ôm thâm tình, những lời nhắn nhủ và ước hẹn thì bé Thu dường như bị quên lãng. Chẳng ai còn trông đợi gì ở một đứa trẻ nhất quyết không nhận ba như thế suốt mấy ngày liền. Thế nhưng chính trong giây phút cuối cùng của cuộc tiễn đưa, Thu bộc lộ hết tình cảm của một đứa con xa cha, cần hơi ấm vòng tay người cha và khao khát được gọi “ba”. Ông Ba đã tinh tế khi nhận ra sự thay đổi trong tâm lý của Thu. “Vẻ mặt sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt như to hơn nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Diễn biến ấy rất phù hợp với một đứa trẻ nhạy cảm như Thu. Đâu chỉ riêng người lớn, đứa bé như Thu cũng cảm nhận được hoàn cảnh ngày hôm ấy. Không còn bao lâu nữa ba mình sẽ ra đi. Dự cảm sắp sửa xa người thân và những gì Thu biết về cuộc chiến này thôi thúc em muốn bộc lộ được tình thương đang âm ỉ trong lòng. Em đâu phải đứa trẻ vô tâm, cũng không phải ngang bướng hay cứng đầu. Mọi hành động em làm điều có lý do. Điều này đã được bà ngoại tiết lộ sau đó. Đến đây người đọc mới vỡ oà vì sao Thu không chịu nhận ba mình. Tất cả cũng vì vết sẹo lớn trên gương mặt ba. Vết sẹo là theo lời ngoại Thu nhận ra rằng chiến tranh, bom đạn tàn khốc là thế, đến mạng sống còn khó mà giữ được đừng nói cho một vết thương sâu.

Thông qua lời kể của bà, chúng ta còn có thể hình dung được tiếng thở dài của Thu, cái im lặng khi em quay người sang một bên. Chắc Thu đã hối tiếc lắm khi để mất những ngày qua. Thu cũng thấy ân hận vì lỡ làm ba mình buồn lòng. Cô bé đâu chỉ là trẻ con, khi đã nghe và hiểu, Thu đâu khác gì một người lớn hiểu chuyện. Thu nhận ra mình đã sai và lần đưa tiễn này đây chính là cơ hội cuối cùng. Thu là một đứa trẻ, mà trẻ con thì luôn muốn được thương yêu và thể hiện sự yêu thương của bản thân dành cho người khác bằng hành động mãnh liệt nhất. Lời chào tạm biệt của người cha như giọt nước nhỏ vào ly đã đong đầy. Thu thốt lên tiếng kêu xé lòng, tiếng gọi Thu đã ấp ủ từ tấm bé nay được thỏa nỗi mong chờ. “Ba ….a..a..ba!”Gọi vẫn còn chưa đủ, Thu chạy tới trong cử chỉ cuống quýt, vồ vập. Thu dùng cả cơ thể mình để đón lấy tình phụ tử thiêng liêng. Hàng loạt những động từ thể hiện hành động của Thu như chạy xô tới, hót lên, dang chặt hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ…Cả vết sẹo mà trước đó không lâu Thu còn e sợ thì giờ đây Thu không hề né tránh thậm chị còn hôn lên nó. Với Thu, vết sẹo kia mới thật sự oai phong làm sao, nó là chiến tích của một người người hùng. Trong lòng Thu giờ đây ắt hẳn cảm thấy có lỗi với cả vết sẹo này vì Thu đã từng xem nó là bằng chứng để Thu xa lánh ba mình. Cô bé cố thâu tất cả những tình thương vào trong nụ hôn và vòng tay siết chặt ba mình cho thỏa những tháng ngày mong mỏi. Thu đã trở về là một đứa con nít, không gai góc xù xì, không ương bướng khó bảo, Thu trở về là Thu nguyên vẹn trong hình hài một đứa con khao khát tình cha, một đứa trẻ nhõng nhẽo không muốn ba mình phải rời đi. Sự nhõng nhẽo ấy mới đúng tâm lý của cô con gái. Giây phút tiếng “ba” bật lên từ đôi môi bé xíu của Thu, cũng là giây phút cảm động nhất của câu chuyện.

Những người xung quanh ai nấy đều im lặng, xúc động chứng kiến cuộc chia ly nhiều nước mắt này. Giá mà thời gian có thể kéo dài thêm thì đâu có cái gọi là luyến tiếc. Anh Sáu không thể ở lại thêm được nữa, thời gian đã hết, việc quân không thể trì hoãn. Anh Sáu phải làm nhiệm vụ một người chiến sĩ nên chẳng thể nấn ná cùng con. Thu chỉ để ba mình đi khi ba hứa sẽ mua cho mình chiếc lược. Một món quà mà bất cứ đứa con gái bé bỏng nào cũng mong có được. Tuy nhiên Thu đâu chỉ món quà, cũng không phải vì được hứa nên mới chịu ngoan ngoãn nghe lời. Điều mà bé Thu chờ đợi là sự trở về của ba mình. Chiếc lược chỉ là cái cớ cho lần gặp gỡ tiếp theo. Điều mà Thu mong mỏi là lời hứa của ba mình. Với một đứa trẻ hứa hẹn cũng là món quà đáng để hi vọng. Không chỉ thế, chiếc lược với Thu còn là cách để ba thể hiện tình cảm dành cho mình.

Tâm lý một đứa bé bao giờ cũng muốn người mình thương quan tâm mình, đặt mình lên hàng đầu bằng việc tặng những quà. Nói cho cùng, điều mà Thu chờ đợi nhất vẫn là tình thương và sự trở về an toàn của ba mình, điều mà anh Sáu không thể hứa cùng con. Câu chuyện kết thúc bằng sự ra đi đầy xót xa của anh Sáu cùng chiếc lược ngà có khắc tám chữ tận đáy lòng người cha “yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Chiếc lược ấy chính là tình yêu to lớn nhất mà anh Sáu để lại cho Thu. Chiếc lược chứa đựng niềm mong mỏi, tâm huyết của người cũng là món quà duy nhất anh Sáu tặng con mình. Tuy vậy, có lẽ trong giây phút cầm trên tay chiếc lược được trao lại từ tay ông Ba, cô giao liên Thu đã nhận được một món quà còn vĩ đại hơn thế nữa, đó là tình cha con sâu nặng, là động lực giúp Thu vững bước hơn trên con đường mình đã chọn.

Không phải tự nhiên mà Nguyễn Quang Sáng được mệnh danh là cây đại thụ của văn chương Nam Bộ. Cũng như cả cuộc đời gắn bó với nhân dân miền Nam, những sáng tác của ông mang đậm dấu ấn của dòng sông Tiền hiền hậu, chân chất như hơi thở cuộc sống. Đọc văn của Nguyễn Quang Sáng, ta như cảm nhận được cuộc đời bước ra từ trang sách bởi nhà văn chọn bút pháp phản ánh hiện thực xuyên suốt trong cả hành trình sáng tạo. Với ông, văn chương hoa mỹ và trí tưởng tượng giống như món hàng xa xỉ. Ông chọn cách để từng câu chữ lặn hụp trong dòng sông quê để tự nó thấm đẫm phù sa.

Sự thành công của Chiếc Lược Ngà không chỉ dừng lại ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện đặc sắc, ngôn ngữ bình dị, giàu cảm xúc mà Chiếc Lược Ngà còn tạo tiếng vang bởi cách nhà văn chọn những chi tiết rất đắt có thể kể đến như chi tiết vết sẹo trên gương mặt anh Sáu, chi tiết anh gắp trứng cá cho con, đặc biệt là hình tượng đa nghĩa chiếc lược ngà. Không thể bỏ qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trẻ con vừa mâu thuẫn vừa nhất quán dựa trên sự thấu hiểu của nhà văn đối với trẻ em. Tất cả những thành công ấy là bước đệm để Chiếc Lược Ngà truyền tải thông điệp về tình phụ tử và khắc hoạ nên hình ảnh một cô bé Thu vừa tinh ranh, thông minh lại vừa ương bướng nhưng rất đỗi yêu thương, kính trọng cha mình.

Sự khắc nghiệt của thời gian bao giờ cũng đi đôi với sự ăn mòn về những giá trị tinh thần hoặc vật chất nào đấy thuộc về một thời đại. Văn chương không nằm ngoài quy luật ấy. Tuy nhiên bằng cá tính của mình, thông qua lăng kính riêng về cuộc đời, Nguyễn Quang Sáng đã để Chiếc Lược Ngà và hình tượng bé Thu nằm ngoài sự băng hoại ấy. Để đến hôm nay, dù đất nước không còn bóng giặc, không còn vết sẹo nào có thể chia cắt tình phụ tử nhưng mỗi lần nghĩ đến hình ảnh cô bé Thu cá tính, giàu tình cảm trong lòng lại dậy lên những tình cảm đẹp gia đình. Mọi thứ có thể qua đi, chỉ riêng tình người thì ở lại cùng năm tháng. Một ngày nào đó chúng ta có thể quên đi vài chi tiết trong tác phẩm nhưng chỉ cần lòng còn xúc động, tim còn náo nức có nghĩa là vẫn còn có thể thấu hiểu, cảm thông và yêu kính đấng sinh thành.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 8

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn có rất nhiều những tác phẩm hay viết về những người dân Nam Bộ. Bởi ông vừa là một nhà văn nhưng cũng là một người chiến sĩ nên ông hiểu rõ những góc sâu trong tình cảm của những con người chiến sĩ luôn gần gũi bên cạnh mình. Những tác phẩm của ông mang lại rất nhiều dấu ấn trong lòng người đọc như Con chim vàng, Người quê hương, Chiếc lược ngà,… Trong số đó, tác phẩm mà em thích nhất chính là Chiếc lược ngà (1966). Câu chuyện đã làm cho chúng ta xúc động về tình cha con thắm thiết của bé Thu và anh Sáu trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.

Bé Thu là một cô bé ương ngạnh và bướng bỉnh. Từ nhỏ, bé Thu đã không được gặp anh Sáu- cha của mình mà chỉ biết cha qua tấm ảnh cưới của cha mẹ. Bởi thế, trong lòng của cô bé, anh Sáu là một chiến sĩ cứu nước đẹp trai và thật yêu thương nó. Mãi cho tới khi bé Thu được bảy tuổi, anh mới có thời gian để về thăm nhà vài ngày. Những tưởng bé Thu sẽ nồng nhiệt đón chờ anh, thế nhưng, bé lại xa lánh người cha của mình và nhất quyết không chịu gọi một tiếng ” Ba” nào cả. Lần đầu tiên gặp anh, bé chỉ ” tròn mắt nhìn”,”ngơ ngác, lạ lùng” sau đó là ” vụt chạy và kêu thét lên”. Trong lòng anh Sáu luôn khao khát có thể có được một tiếng gọi của con gái, thế nhưng, bé Thu nhất quyết không chịu gọi anh một tiếng nào. Thậm chí, bé còn có những hành động chống đối lại anh. Khi mẹ bảo gọi cha ăn cơm, bé chỉ nói trống không những câu như ” Thì má cứ kêu đi”,”Vô ăn cơm”, “Cơm chín rồi”. Ngay cả lúc lâm vào tình huống khó xử cần nhờ giúp đỡ của anh Sáu mà bé Thu cũng nhất quyết không chịu gọi anh một tiếng ba mà chỉ hì hục một mình làm công việc. Những khi anh Sáu ân cần chăm sóc, bé cũng không chấp nhận. Bé hất miếng trứng cá anh Sáu gắp cho mình. Và trong những phút nóng giận, anh đã đánh vào mông bé ” Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?”. Có lẽ tới đây, ai cũng nghĩ rằng, bé sẽ khóc to hay giẫy lên nhưng tình huống không hề như vậy. Bé Thu chỉ im lặng rồi sau đó bé đi sang bên nhà bà ngoại,” mét với ngoại và khóc ở bên đó”. Ở tình huống này, có rất nhiều người sẽ trách mắng bé Thu. Thế nhưng, tới đây, chúng ta mới hiểu được lí do tại sao bé Thu lại không chịu gọi anh Sáu một tiếng “Ba”.

Tất cả chỉ bởi vết sẹo ở trên mặt anh. Đây có lẽ là kết quả mà không ai có thể ngờ được. Thì ra trong bức ảnh của anh khi đưa cho bé Thu xem là khi anh chưa đi kháng chiến nên không hề có vết sẹo nào ở trên mặt. Trong khi giờ đây, khi anh đứng trước mặt của bé thì mặt của anh lại có một vết sẹo dài. Mỗi lần xúc động, vết sẹo ấy lại giật giật trông rất đáng sợ. Chính bởi lí do như vậy mà bé Thu nhất quyết không nhận người cha của mình bởi trong trí óc non nớt của bé, người cha không hề có vết sẹo đáng sợ ấy. Nghe được lời giải thích của bà, lúc này, bé mới có thể hiểu được những điều đó và cũng hiểu thêm về người cha của mình.

Tới lúc chia tay, anh Sáu chỉ khẽ nói với con:” Thôi! Ba đi nghe con!” Cứ nghĩ rằng cho tới lúc chia tay, anh cũng không thể nghe được tiếng gọi ba, thế nhưng một điều không ngờ đã xảy tới. Thu bỗng thét lên ” Ba!…Ba!” Tiếng kêu như gào xé cả bầu không gian. Bé vội chạy tới, ôm chầm lấy người cha của mình mà hôn lên khắp khuôn mặt của người cha, hôn cả lên vết sẹo mà bé vẫn thường sợ ấy. Bé khóc nấc lên, đòi giữ lấy người cha ở cạnh mình, không cho ba đi vì thời gian nhận ra nhau của họ quá ngắn ngủi. Không còn cách nào, bé đành xin ba làm cho bé một chiếc lược. Đây cũng chính là yêu cầu duy nhất của bé.

Đây cũng là lần cuối cùng của bé Thu được gặp người cha của mình. Qua đây, chúng ta thấy được tình cảm của cả hai cha con. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, tác phẩm cũng kín đáo lên án chiến tranh, bởi chiến tranh đã tàn phá và để lại vết thương trên cơ thể anh Sáu và cũng làm cho cha con anh không thể gặp được nhau mới gây nên những tình huống như lúc này. Và hình ảnh của bé Thu mãi mãi là hình ảnh đẹp trong tâm trí của mỗi chúng ta.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 9

Đề tài về tình cảm gia đình luôn là mạch nguồn cảm xúc của văn chương. Ca dao Việt Nam ngập tràn bóng dáng người mẹ, người cha và tạo thành dòng chảy đi vào thơ văn hiện đại với Lời ru của mẹ (Xuân Quỳnh), Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa), Bầm ơi! (Tố Hữu), Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông),… Cũng từ đó, tình cảm gia đình thiêng liêng được bồi đắp trong trái tim mỗi người, là sức mạnh, là niềm tin trong cuộc sống. Đồng thời, tình cảm gia đình là cái nôi sinh ra những tình cảm cao đẹp khác. Và tình cảm thiêng liêng ấy được đặt trong bối cảnh chiến tranh lại càng nổi bật, đậm đà. Chiếc lược ngà là một trong số đó. Đọng lại trong tâm hồn người đọc khi cảm nhận câu chuyện chính là ấn tượng khó quên về nhân vật bé Thu- một cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh và gan góc.

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Các sáng tác của ông tập trung chủ yếu về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc chiến cũng như sau hòa bình. Nguyễn Quang Sáng viết tác phẩm “Chiếc lược ngà” khi mà miền Bắc nước ta đã giải phóng đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, tăng gia sản xuất và chi viện cho tiền tuyến Miền Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh Nam – Bắc chia hai nhiều người con miền Bắc đã phải đi bộ dọc rừng Trường Sơn để vào Miền Nam đánh Mỹ cứu nước thống nhất nước nhà, nhiều gia đình vì thế mà ly biệt. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” tố cáo tội ác của chiến tranh, tố cáo chiến tranh phi nghĩa mà giặc Mỹ đã gieo xuống dân tộc ta, làm cho đất nước ta phải chia hai. Nhiều người con phải xa cha, người vợ xa chồng.

Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện, được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén, là một cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh và gan góc. Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm, khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng “Ba”, hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống, cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu, nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé, dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh, dù là bị dồn vào thế bí, dù là bị ông Sáu đánh, bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết, mạnh mẽ. Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi “thái quá”, song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý. Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha “chụp chung trong bức ảnh với má”. Người cha ấy không giống ông Sáu, không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má. Vết thẹo, dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu. Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn, biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ. Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà là sự kiên định, thẳng thắn, có lập trường bền chặt, bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan cường của cô gian liên giải phóng sau này.

Nhân vật bé Thu – một em gái tám tuổi là nhân vật thứ nhất của truyện, có một tình yêu cha thật đằm thắm, mãnh liệt. Cha đi chiến đấu biền biệt xa nhà, đến khi Thu lên tám tuổi, hai cha con mới được gặp nhau. Cô bé tóc cắt ngang vai, hồn nhiên xinh đẹp, mới nhìn ông Sáu đã nhận ra ngay con gái của mình, vậy mà nhìn thấy cha bé Thu đã tròn mắt nhìn, ngơ ngác lạ lùng, tái mặt đi, vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má!”. Rồi suốt trong ba ngày cha ở nhà Thu đã không nhận ra cha. Tâm lí và thái độ của Thu được biểu hiện qua hàng loạt các chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động như: nhất định không chịu gọi ông Sáu là cha; nhất định không nhờ ông Sáu chắt giùm nước nồi cơm đang sôi to; hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng kêu rổn rảng thật to… Cách cư xử nói năng cộc lốc, vùng vằng, ương ngạnh, ngờ vực; cái thái độ lạnh nhạt, lảng tránh xa cách, thậm chí còn có những hạnh động vô lễ với ông Sáu ấy khiến cho tình cảm cha con tưởng chừng không hình thành được.

Tuy nhiên sự ương ngạnh của bé Thu lúc mới gặp cha là hoàn toàn không đáng trách. Bởi vì trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le của đời sống. Mặt khác, người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ông Sáu là ba. Chỉ vì trên mặt ông có thêm vết thẹo khác với hình ba mà nó đã khắc sâu vào tâm trí. Phản ứng tâm lí của bé Thu là hoàn toàn tự nhiên. Nó chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm sâu sắc chân thật. Thu chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Trong cái cứng đầu của Thu có ẩn chứa cá sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác. Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng: Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm.

Song, đến buổi cuối cùng, trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Tình phụ tử thiêng liêng đã cháy bùng lên. Khi nhìn thẳng đối diện với người cha “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Đằng sau đôi mắt mênh mông, xôn xao đó là biết bao ý nghĩ, tình cảm đang xáo động trong lòng. Có được sự xôn xao đó trong đôi mắt là kết quả của cả một đêm “lăn lộn, thở dài như người lớn ở nhà ngoại”. Nó lăn lộn, nó thở dài có lẽ vì nó ân hận, quá giận mình, rất thương ba và mong cho trời chóng sáng để có thể chạy về nhà. Lần đầu tiên, khi không ai ngờ tới, Thu cất tiếng gọi ba. Đó là tiếng kêu như tiếng xé, xé không khí và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng ba Thu đã kìm nén bao năm nay. Tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng nó. Và đau đớn thay, đây là tiếng gọi ba đầu tiên cũng là tiếng gọi cuối cùng trong cuộc đời cô bé. Sau tiếng gọi ba là một loạt những hành động “nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên, giang hay tay ôm chặt lấy cổ ba nó rồi nó hôn ba nó cùng khắp, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”. Tất cả những hành động đó đều biểu hiện một tình cảm ruột thịt nồng nàn là nỗi mong nhớ bùng lên thật mãnh liệt, hối hả, cuống quýt có xen lẫn sự hối hận. Và khi nghe ông Sáu nói: “Thôi, ba đi nghe con”, nó đã thét lên “Không!” rồi “hai tay xiết chặt cổ ba nó, giang cả hai chân câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé rung rung”, bé Thu khóc. Đó là tiếng khóc của sự xót xa ân hận vì lỗi lầm của mình, vì thương ba đau khổ. Khi hiểu ra mọi lẽ, khi nhận ra cha thì đã quá muộn. Do đó tất cả mọi hành động của Thu đối với cha như muốn đền bù những hụt hẫng đã qua. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy, trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt. Riêng bác Ba – người kể chuyện cảm thấy như có bàn tay cứ nắm lấy trái tim mình. Nhà văn viết không nhiều, chỉ bằng một nét chấm phá đó thôi nhưng đủ cho ta xúc động trước nỗi niềm và tâm trạng của nhân vật.

Đoạn trích kết thúc trong ánh mắt thiết tha của anh Sáu trước lúc hy sinh nhờ bác Ba trao cây lược ngà cho Thu. Với bé Thu, cây lược nhỏ mang dòng chữ đầy yêu thương “yêu nhớ tặng Thu con của ba” là kỉ vật chứa đựng tình thương, nỗi nhớ, hình bóng, tấm lòng người cha. Chiếc lược ngà đã động viên em vững vàng trong cuộc chiến đấu.

Khi bác Ba tình cờ gặp lại Thu và trao cây lược, thì cô bé bướng bỉnh cá tính ngày nào đã trở thành cô giao liên dũng cảm. Và nguồn sức mạnh tiếp thêm cho Thu là tình yêu ba, tình yêu đất nước. Đến đây, những cảm nhận về nhân vật bé Thu còn cho thấy đó chính là sức mạnh của tình yêu gia đình cùng tình yêu quê hương đất nước.

Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật bé Thu – một nhân vật trẻ em có tính cách cứng cỏi , mạnh mẽ , dứt khoát “đến nỗi, nhìn thoáng qua, người ta có thể cho là ương ngạnh, bướng bỉnh, khó bảo” nhưng cũng hết sức hồn nhiên, đáng yêu, ngoan ngoãn và có tình yêu cha sâu sắc. Chỉ với những chi tiết trên, cảm nhận về nhân vật bé Thu đã hiện lên thật chân thực và rõ nét. Cùng với đó là cách tạo tình huống bất ngờ, sự am hiểu tâm lí và tính cách trẻ em, cách chọn chi tiết nghệ thuật “đắt”, điển hình như chi tiết bé Thu không gọi ba, chi tiết bé Thu loay hoay chắt nước cơm, hất cái trứng cá ba gắp cho, chi tiết cây lược mà Thu xin ba trước lúc ba đi.

Tình cảm của bé Thu đối với cha thật sâu sắc, mạnh mẽ, thật dứt khoát rạch ròi. Thu là đứa trẻ có cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng hồn nhiên, ngây thơ, đáng yêu. Giờ đây, Thu không chỉ yêu ba, em còn tự hào về ba. Chính niềm yêu thương và tự hào ấy đã trở thành sức mạnh thôi thúc và rèn giũa để sau này Thu trở thành cô giao liên mưu trí, dũng cảm gan dạ. Qua những diễn biến tâm trạng, tình cảm của bé Thu, ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và quan trọng hơn bởi ông có tấm lòng yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ đó.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 10

Tình cảm gia đình thiêng liêng, cao cả với mỗi người nhưng trong chiến tranh tình yêu thương ấy còn cao đẹp hơn bao giờ hết. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng khắc họa tình cảm phụ tử cảm động giữa anh Sáu và bé Thu trong truyện ngắn ” Chiếc lược ngà”. Tác giả thành công xây dựng hình ảnh nhân vật bé Thu với cá tính và lòng yêu ba sâu nặng.

Hình ảnh bé Thu hiện lên ngây thơ mà cũng đầy bản lĩnh được nhà văn khắc tạc một cách chân thực. Ngay từ lúc chưa đầy một tuổi, em đã sống xa vòng tay yêu thương của ba bởi ba em đi kháng chiến. Giữa sự chở che của bà, của mẹ. em vẫn khao khát được gặp ba. Nét hồn nhiên của lứa tuổi khiến em tin rằng ba phải là người giống với cái hình chụp chung với má. Hình ảnh cô bé tám tuổi chơi ở nhà chòi cho thấy Thu là cô bé ngoan, biết nghe lời.

Khi bắt gặp tiếng gọi của anh Sáu, chứng kiến những cử chỉ hồ hởi và đặc biệt là vết thẹo dài, đỏ ửng, giần giật trên gương mặt người lạ, bé Thu từ ngỡ ngàng chuyển sang hoảng sợ và bỏ chạy kêu má. Trong phút đầu gặp gỡ, trước tình cảm dạt dào của anh Sáu lúc ấy cô bé đâu ngờ đã cứu một vết thương rỉ máu lên trái tim giàu tình thương của người cha. Ba ngày ngắn ngủi “anh càng vỗ về con bé càng đẩy ra.

Anh mong một tiếng “ba” của con bé nhưng nó chẳng bao giờ chịu gọi”. Sự ngang ngạnh được thể hiện một cách trực tiếp bởi con bé luôn nói trổng “Vô ăn cơm, cơm chín rồi”. Ngay cả khi bị dồn vào thế bí: nồi cơm sôi, mẹ dặn nó ở nhà phải chắt nước nếu không cơm nhão, nhưng cái nồi to quá mà con bé nhất quyết không gọi anh Sáu là ba để anh chắt nước giùm như lời gợi nhắc của anh Ba.

Cô bé “luýnh quýnh, loay hoay, nhón lấy cái vá múc từng vá nước”, giúp ta hình dung bé Thu không chỉ khéo léo, đáo để mà còn dũng cảm luôn giữ vững lập trường của mình. Những tưởng tình cảm yêu thương, sự săn sóc của anh Sáu bộc lộ rõ nét trong bữa cơm, khi anh gắp cho nó một cái trứng cá to vàng. Bé Thu “lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất tung cái trứng cá ra, cơm văng tung tóe cả mâm”, sự đối kháng quyết liệt đẩy mâu thuẫn giữa hai cha con lên đỉnh điểm.

Con bé bị anh Sáu đánh có lẽ anh hoàn toàn bất lực nhưng bé Thu không giãy nảy lăn ra khóc mà một loạt động từ “ngồi im, đầu cúi gằm xuống, gắp lại cái trứng cá để vào chén, lặng lẽ đứng dậy, lấy dầm bơi qua sông sang bên ngoại”. Hành động của cô bé phần nào phản ánh tính cách của tuổi nhỏ và cá tính mạnh mẽ, rắn rỏi.

Đằng sau hình ảnh một cô bé ương bướng, bé Thu còn hết mực yêu cha. Sau đêm ngủ với ngoại, bé Thu không nhận anh Sáu là ba không phải vì lâu không gặp em quên ba mất rồi mà vì trên mặt anh Sáu có một thẹo khác với người chụp chung với má. Nghe bà lí giải nguyên nhân của vết thẹo, cô bé khẽ thở dài và đưa tay lên trán suy ngẫm. Phải chăng nó đang nghĩ về lỗi lầm của mình, về đau khổ của ba nó phải hứng chịu?

Ngày anh Sáu lên đường, nó núp sau cánh cửa và nhìn với cái nhìn xa xăm, dịu dàng hơn thực chất trong tâm hồn đó đang có một sự thay đổi lớn. Tình cảm vỡ òa khi bé Thu kêu tiếng ba nghẹn ngào trong tiếng nấc: ” Ba…a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé không gian và xé trái tim mọi người.

Đó là tiếng gọi thân thương nó dồn nén bao nhiêu năm nay mới được bật ra thành lời. Nó chất chứa bao nỗi niềm nhớ thương và cả sự ăn năn. Nó nhanh như con sóc, ôm chặt lấy ba, quặp chặt hai chân và hôn ba cùng khắp, hôn cả vết thẹo của anh Sáu. Những cái hôn vội vã cùng những giọt nước mắt xúc động, hạnh phúc em đều mong mỏi dành tặng người cha kính yêu, dũng cảm của mình.

Nhưng thời gian thật ngắn ngủi cho niềm hạnh phúc ấy bởi anh Sáu phải lên đường. Lời nói của cô bé ” Ba ở nhà với con nghe ba” một lần nữa khẳng định tình cảm sâu nặng mà trong sáng. Món quà bé Thu muốn ba tặng là chiếc lược ngà thực chất cũng vì mong ba bình yên và trở về từ cuộc kháng chiến đầy gian nan, nguy hiểm.

Chiến tranh tạo thành bức tường vô hình ngăn cách hai cha con anh Sáu và bé Thu nhưng tình phụ tử thiêng liêng, cao đẹp của bé Thu vẫn ngời sáng hơn. Nhà văn xây dựng nhân vật bé Thu với vẻ đẹp cá tính, đầy bản lĩnh nhưng ở đó tình yêu ba luôn thường trực.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 11

Tình cảm gia đình luôn là một chủ đề quan trọng của văn học Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khai thác rất hiệu quả mảng đề tài này, ông đã có rất nhiều tác phẩm đặc sắc, trong đó có truyện ngắn “Chiếc lược ngà”. Một trong những yếu tố tạo nên thành công đầy ấn tượng của truyện chính là việc xây dựng thành công nhân vật chính – bé Thu – một cô bé đáng yêu, cá tính và có tình yêu ba tha thiết.

Bé Thu là một cô bé mới lên tám tuổi nhưng cô đã thể hiện rõ tính cách bướng bỉnh, gan góc và rất cá tính của mình. Trong trí nhớ và ấn tượng khắc sâu trong tâm hồn cô bé chỉ có duy nhất một người ba mà nó biết qua tấm ảnh chụp chung với má ngày cưới.

Chính vì vậy mà sau khi ông Sáu đi chiến trường về với chiếc sẹo trên má, nó đã nhất quyết không chị nhận ông Sáu là ba, mặc cho cả nhà, ngay cả bà nội nó cũng thừa nhận điều đó. Mọi người đón ông Sáu với tất cả tấm lòng chân thành, ông cũng vô cùng xúc động khi gặp bé Thu, nhưng bỏ qua tất cả, bé Thu vẫn hét lên sợ hãi và không thừa nhận đó là ba mình.

Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn quang Sáng. Những hành động của bé Thu cũng thể hiện rõ tính cách đặc biệt của cô bé, khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm” nhưng nó lại gọi “trổng” là “vô ăn cơm”. Khi nồi cơm sôi, nó nhất quyết không nhờ ba mà cố tìm cách chắt được nước mà không cần nhờ vả.

Sự rắn rỏi và ngang bướng của trẻ con bộc lộ rất rõ qua hành động hất cả chén cơm khi ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Mặc dù bị ba đánh nhưng con bé vẫn ngồi im, cúi gằm đầu xuống, gắp lại miếng trứng vào bát rồi đứng dậy ra khỏi mâm. Đành rằng, trẻ con chỉ biết tin vào những gì chúng nhìn thấy, nhưng bé Thu đã không thể tưởng tượng được sự ác liệt của chiến tranh, dẫn đến những suy nghĩ và hành động kiểu trẻ con ấy.

Tuy nhiên phải thừa nhận rằng cô bé có một cá tính mạnh mẽ, sự gan góc, bướng bỉnh đến kì lạ, đó chính là tiền đề để nó trở thành một cô giao liên dũng cảm, lanh lợi sau này. Điều khiến nhân vật đi sâu trong lòng người đọc chính ở tình yêu ba nồng nàn và tha thiết của bé Thu. Càng phản đối và không chấp nhận người “ba giả” kia bao nhiêu càng thể hiện cô yêu ba của mình bấy nhiêu, đó là tình yêu sâu sắc duy nhất, không thể sẻ chia cho bất cứ ai.

Đến khi biết rằng ông Sáu chính là ba thật của mình, bé Thu đã cho thấy con bé thèm được gọi tiếng ba như thế nào, tiếng kêu của nó như tiếng xé lòng xót xa. Tiếng “ba” nó đã cố đè nén trong bao nhiêu năm, nay được vỡ tung ra từ đáy lòng, đó là một tiếng gọi thiêng liêng vô cùng. Thấu hiểu những gì quân giặc gây ra, cô bé Thu đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, dân tộc.

Nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một nhân vật trẻ thơ thực sự đầy sống động và gây niềm xúc động sâu sắc trong lòng người đọc với những tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật là một phần quan trọng tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm, giành vị trí riêng trong lòng bạn đọc.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 12

Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện cảm động về tình cảm cha con ông Sáu trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Trong tác phẩm nổi bật hơn cả là bé Thu, nhân vật có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu thương cha tha thiết, mãnh liệt.

Truyện xoay quanh hai tình huống cơ bản: hai cha con gặp lại nhau sau tám năm xa cách, nhưng bé Thu không nhận ra ba, khi nhận ra thì anh Sáu lại phải tiếp tục lên đường chiến đấu. Đây là tình huống cơ bản giúp bé Thu thể hiện tình cảm mãnh liệt với cha. Ở khu căn cứ ông dồn hết tình yêu làm chiếc lược ngà cho con nhưng chưa kịp đưa ông đã hi sinh. Tình huống này giúp bộc lộ tình yêu của ông Sáu với con.

Thu là cô bé được sinh ra và lớn lên trong chiến tranh nên trong suốt tám năm ròng, cô bé chỉ được sống trong tình yêu thương, sự bao bọc của mẹ, em chưa một lần được gặp ba, mà chỉ nhìn mặt ba qua một tấm ảnh ba chụp chung với má. Thu vẫn luôn mang trong mình khao khát được gặp ba, được sống trong tình yêu của ba.

Và có lẽ điều đó sẽ thành hiện thực nếu cuộc gặp gỡ sau tám năm kia không có những éo le trắc trở. Nhưng chỉ vì chiến tranh, một dấu tích để lại trên gương mặt anh Sáu mà con bé nhất quyết không chịu nhận ba. Trước cái dang tay của anh Sáu, Thu thấy vô cùng ngạc nhiên, sau đó là hoảng sợ, mặt nó tái đi, quay đầu bỏ chạy, cầu cứu má.

Phản ứng đầu tiên này có thể coi là bình thường, vì sau tám năm vào chiến trường có lẽ anh Sáu đã già dặn đi nhiều nên con bé không nhận ra. Nhưng những ngày sau đó, con bé vẫn luôn tìm cách lảng tránh và nhất quyết không gọi ông Sáu là ba. Bị mẹ ép gọi ba vào ăn cơm nó chỉ nói trống không, khi bị đẩy tới bước đường cùng chắt nước cơm nó cũng linh hoạt tự làm một mình.

Nhất là khi ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá, nó hất ra khỏi bát cơm, khiến cơm văng tung tóe. Lúc bị đánh những tưởng nó sẽ khóc, nhìn anh Sáu bằng ánh mắt căm giận, nhưng nó chỉ lặng lẽ gắp cái trứng cá ra rồi bỏ về nhà ngoại. Nó không chấp nhận bất cứ sự quan tâm nào của ông Sáu với nó.

Sự ương ngạnh của bé Thu không đáng trách, vì em còn quá nhỏ để hiểu được những ác liệt mà chiến tranh gây ra. Em không tin đó là ba mình vì vết thẹo dài trên má khác với người ba chụp cùng với má trong bức ảnh. Bởi vậy phản ứng quyết liệt của Thu là hợp lí, thể hiện một cá tính mạnh mẽ, tình yêu thương ba vô cùng sâu đậm.

Nhưng khi được nghe bà ngoại giải thích, lí do anh Sáu không giống trong bức ảnh thì bé Thu hiểu ra mình đã sai. Thu đã rất ân hận về hành động của mình, “nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Bà ngoại chính là người giải đáp mọi thắc mắc, cởi nút trong tâm hồn trẻ thơ của Thu.

Phản ứng không nhận anh Sáu quyết liệt bao nhiêu thì khi nhận ra cha tình cảm ấy lại càng sâu nặng, mãnh liệt bấy nhiêu. Trong giờ phút cuối cùng trước khi cha đi, tình cảm dồn nén bấy lâu nay bùng lên thật mãnh liệt, mạnh mẽ: Nó thét tiếng “Ba” xé ruột, xé gan. Đó là tiếng “ba” nó mong chờ bấy lâu nay, tiếng gọi ấy khiến ông Sáu rơi lệ.

Rồi nó nhảy tót lên ôm chặt lấy ông Sáu, hôn vào tóc, vai, mặt, mũi và cả vết thẹo dài trên mặt ông. Chân nó quặp chặt lấy ba, như thể không muốn cho ông rời đi. Tất cả những hành động ấy cho thấy Thu yêu thương ba vô cùng, một tình yêu mãnh liệt, chân thành, thắm thiết. Tình yêu đó được bộc lộ một cách cảm động qua hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

Tác phẩm có cốt truyện đơn giản những chi tiết được sắp xếp hợp lí, đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đồng thời bộc lộ được cá tính nhân vật. Sự lựa chọn người kể chuyện phù hợp, bác Ba người luôn bên cạnh hai cha con, chứng kiến toàn bộ câu chuyện, bởi vậy câu chuyện được thuật lại chân thực, giàu cảm xúc.

Ngôn ngữ kể chuyện có sự kết hợp hài hòa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, khiến cho câu chuyện không chỉ hấp dẫn bởi cốt truyện mà còn bị rung động với những suy nghĩ, trăn trở của người kể chuyện. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật hết sức đặc sắc, nắm bắt tâm lí trẻ con tài tình, chân thực.

Qua nhân vật bé Thu tác giả đã thể hiện một cách cảm động tình yêu cha sâu sắc trong hoàn cảnh khắc nghiệt, éo le của chiến tranh. Đồng thời cũng là lời khẳng định, dù chiến tranh xảy ra cũng không thể làm vơi cạn được tình người, tình cảm gia đình. Ngược lại chính trong hoàn cảnh này, tình cảm gia đình lại càng trở nên sâu nặng, tha thiết và cao đẹp hơn.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 13

Chiếc lược ngàlà sáng tác xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng khi trở lại miền Nam công tác. Từ một câu chuyện kể về một nữ giao liên thông minh, tài trí, nhà văn đã viết nên câu chuyện cảm động này. Qua hoàn cảnh éo le của gia đình ông Sáu, nhà văn đã thể hiện thật chân thành và cảm động vẻ đẹp tình cảm gia đình trong hoàn hoàn cảnh chiến tranh. Đặc biệt, tâm lí và hành động của nhân vật bé Thu được xây dựng khá tinh tế thể hiện sự am hiểu của nhà văn đối với tâm lí trẻ thơ. Diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Thu dường như khó hiểu nhưng đó lại là tình cảm yêu thương tha thiết mà bé dành cho người cha thân yêu của mình.

Câu chuyện được kể“vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ giữa Tháp Mười mà xung quanh nước đã lên đầy…”. Người kể chuyện cho anh em nghe là “một đồng chí già” – ông Ba, chiến sĩ lão thành từng trải trong cuộc kháng chiến. Cách mở đầu tạo không khí nghiêm trang và gợi mở nhiều điều thú vị.

Ông Sáu, một cán bộ kháng chiến, xa nhà hơn bảy năm mới có dịp trở về thăm nhà. Khi ông đi, bé thu, con gái ông chưa tròn một tuổi. Lúc ông trở về, bé Thu đã lớn. Niềm mong mỏi và háo hức được gặp con gái, được ôm nó vào lòng cho thỏa nhớ mong khiến ông bồi hồi. Khi thuyền chưa cập bến, nhìn thấy con bé đang ngồi chơi trước sân, ông đã vội nhảy lên bờ. Nghe tiếng gọi: “Thu! Con”,bé Thu giật mình, tròn mắt nhìn vào chiếc theo nơi má của người đàn ông vừa gọi mình đang giần giật đỏ ửng lên mà sợ hãi. Nghe ông kêu: “Ba đây con!”, mặt Thu bỗng tái đi, rồi vụt chạy và thét lên: “Má! Má!” khiến ông Sáu đứng sững lại, ngỡ ngàng. Nỗi đau đớn hiện ra mặt ông trông thật đáng thương, hai tay buông thõng xuống như bị gãy.

Ba ngày về phép ngắn ngủi cứ nặng nề trôi đi. Bé Thu nhất quyết không gọi ông là ba khiến ông vô cùng đau khổ. Ông càng vồ vập, vỗ về thì Thu lại cảng lảng tránh, xa cách, lạnh nhạt. Bé Thu không hiểu được nỗi khát khao cháy lòng của cha sau tám năm xa cách biết bao mong mỏi được trở về, được nghe con gọi một tiếng cha – bình dị mà thiêng liêng nhất trong cuộc đời này.

Bằng mọi cách, ông, vợ ông và bác ba khuyên nhủ, tạo tình thế để nó gọi ba nhưng nó nhất quyết không gọi. Mẹ nói Thu gọi cha vào ăn cơm thì Thu nói trống không, Thu gọi cha là “người ta”. Sự xa lánh, ương ngạnh của bé Thu như gáo nước lạnh dội xuống ngọn lửa nồng nàn trong lòng cha. Có lúc tưởng chừng như không thể chịu đựng được nữa, đó là khi một mình Thu đối diện với nồi cơm to đang sôi trào, tưởng chừng nó phải cuống lên, xuống nước, đầu hàng, gọi một tiếng ba nhờ sự giúp đỡ.Nhưng không! Thu kiên quyết lấy chiếc vá múc từng vá nước bỏ đi, quyết không chịu cất lên một tiếng ba mà người cha mong đợi.

Bướng bỉnh, bất cần, không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc, điều đó khiến người cha càng thêm đau lòng và cũng không hiểu vì sao Thu lại cự nự, chối bỏ tình cha như vậy?

Ẩn sau những điều đáng trách, đáng ghét ấy của Thu lại là điều vô cùng đáng quý của đứa con bé bỏng đối với cha. Thái độ ngang ngạnh, quyết liệt ấy có lí do riêng của trẻ mà chưa ai hiểu được và chưa ai tháo gỡ cho nó, mặc dù cả người bạn của cha, người mẹ và tất cả mọi người đều xác nhận đó là cha của bé. Cái mầm sâu kín thắc mắc trong lòng bởi người cha trong ảnh trẻ, đẹp, không có vết thẹo ghê sợ trên má kia. Bé kiên quyết giữ vững lập trường để bảo vệ người cha thân yêu của mình. Sự việc sẽ không được giải tỏa nếu như Thu không hất cái trứng cá ra khỏi bát cơm và bị cha la đánh. Thu bỏ ăn chèo thuyền sang bà ngoại.

– Nhà văn cởi nút thật khéo léo, tự nhiên, hợp lí, nỗi khúc mắc trong lòng bé Thu đã được bà ngoại tháo gỡ: chiến tranh, thời gian, sự xa cách đã khiến ba già và xấu xí như thế. Khi đã vỡ lẽ rồi thì lòng yêu cha của bé Thu càng nhân lên gấp bội nhưng quá muộn, đúng lúc cha phải từ giã gia đình, bà con lên đường.

– Buổi sáng chia tay trên bến, khi cha phải lo tiếp khách, Thu cảm giác như bị bỏ rơi, lúc bé đứng vào góc nhà, lúc tựa của nhìn mọi người. Vẻ mặt không còn cau có mà sẫm lại buồn rầu. Đôi mắt mở to vẻ nghĩ ngợi sâu xa. Chia tay Thu là người cuối cùng, đôi mắt mênh mông của nó nhìn cha bỗng xôn xao. Tình cha con đột ngột trỗi dậy. Tiếng ba vỡ òa từ sâu thẳm đáy lòng bao năm chờ đợi, nay buột thốt bất ngờ. Và cái tiếng ba suốt chín năm, ba ngày đằng đẵng người cha mong mỏi giờ mới được nghe. Đột ngột, sung sướng, yêu thương và cả những éo le… trào cả dậy, không ai có thể ngờ tới: “Ba… Ba!

Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng ba mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng nó […]. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: – Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nữa” như muốn chuộc lỗi với ba. Xúc động biết bao Thu hôn lên cả vết thẹo dài mà suốt mấy ngày bé đã nghi kị, ghét bỏ. Đối với người cha ấy, đó là tiếng gọi ba đầu tiên và cũng là tiếng cuối cùng ông nghe được từ con. Xúc động quá nặng tràn, ông Sáu không kìm nổi nước mắt, vừa ôm con, vừa lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con: “- Ba đi rồi ba về với con. – Không! – Con bé hét lên, hai tay nó xiết chặt lấy cổ […], nó dang cả hai chân câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó run run”.

Nhìn ảnh ấy, ai cũng nghẹn lòng làm sao cầm nổi nước mắt. Còn nhân vật tôi “bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim”. Lần cuối bé Thu được ôm cha, nó mếu máo và dặn cha trong tiếng nấc : “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!”. Một ước muốn nhỏ bé, giản dị mà hàm chứa ý nghĩa sâu xa. Cây lược ngà! Phải mười năm sau khi Thu đã trở thành cô giao liên rắn rỏi, kiên cường mới được nhận, lúc đó người cha thân yêu cũng không còn nữa.

Nhà văn không nhiều lời, chỉ qua một vài chi tiết, đủ cho người đọc xúc động trước nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật bé Thu. Đó là tình cảm thật trong trẻo, sâu sắc, mạnh mẽ nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Cứng cỏi, ương ngạnh, yêu – ghét đều thống nhất và hồn nhiên trong tâm trạng một đứa trẻ ngây thơ, chứng tỏ nhà văn rất am hiểu tâm lí trẻ em và diễn tả thật sinh động diễn biến tâm lí với cả tấm lòng yêu thương và trân trọng.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 14

Nguyễn Quang Sáng là một trong những cây bút nổi tiếng trong dòng văn học hiện đại. Ông đã từng là người lính nên ông có những cảm nhận sâu sắc về cuộc đời và hoàn cảnh trong chiến tranh. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là tác phẩm chiếc lược ngà. Trong tác phẩm thì nhân vật bé Thu cho ta thấy được khá rõ tình cảm sâu đậm của cha con. Em rất thích nhân vật này, vậy chúng ta cùng tìm hiểu nhân vật bé Thu.

Bé Thu có một người cha đang đi lính. Khi cha bé Thu trở về nhà thì lúc đó bé Thu đã được tám tuổi. Bé Thu không nhận ông Sáu là cha của bé Thu là cha. Vì vết sẹo bên má phải nhìn rất đáng sợ và không giống với hình chụp với mẹ bé Thu mà bé Thu đã biết. Khi ông Sáu phải trở về căn cứ thì lúc đó bé Thu đã nhận ông Sáu là cha. Ông Sáu đã hứa khi trở về sẽ tặng cho bé Thu một chiếc lược.

Xuyên suốt cả tác phẩm thái độ của bé Thu có nhiều thay đổi. Nhưng tính cách của cô bé đã được tác giả khắc họa rất tinh tế và nhạy bén là một cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh và gan góc khi bé Thu kiên quyết không nhận ông Sáu là cha. Lần đầu tiên được gặp ông Sáu và cũng là lần đầu tiên được ông gọi là con nhưng cô bé đã: “giật mình, tròn mắt nhìn” kèm theo đó là: “ngơ ngác, lạ lùng”. Có lẽ, đây là một hành động đổi là bình thường đối với cái suy nghĩ của cô bé bây giờ. Và từ bất ngờ đến hốt hoảng và lo sợ khi thấy vết sẹo trên má của ông Sáu đỏ ửng lên và giần giật. Lúc này bé Thu chỉ biết chạy vào nhà và kêu thốt lên: “Má! Má!” Trong suốt những ngày ông Sáu ở nhà bé Thu vẫn không nhận ông là cha. Vì cô bé quá nhỏ và vẫn chưa chấp nhận được tâm lý nên chưa thể chấp nhận ông Sáu là cha chăng? Khi mẹ bảo bé Thu kêu ba vô ăn cơm thì bé Thu nói trổng: “Vô ăn cơm”. Và cương quyết không nhận ông Sáu và kêu ông Sáu là cha trong mọi tình huống: “Cơm sôi rồi, chắt nước dùm cái.” ,”cơm nhão bây giờ” Khi ông Sáu gắp cái trứng cá vào chén thì : “Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả bàn” Hành động của bé Thu khi hất cái trứng cá và bị ông Sáu đánh mà vẫn không khóc: “Gấp cái trứng cá vào chén” đã nhấn mạnh tình cảm của cô bé. Tác giả đã dùng rất nhiều chi tiết thách đố cho nhân vật bé Thu như khi cô bé bị mẹ dọa đánh, bị đưa vào thế bí và khi bị ông Sáu đánh. Những hình ảnh xảy ra nhằm thể hiện tình cảm của một cô bé có một tính cách rất bướng bỉnh và cũng rất lì lợm. Nhưng trong cô bé vẫn còn một chút gì đó rất ngây thơ, dễ thương của một cô bé tám tuổi: “xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to” Sau đó chạy sang nhà bà ngoại Thu đã cho bà ngoại là người yêu thương, quan tâm cô nhất nên đã chạy sang nhà bà ngoại mà khóc. Đây là một khía cạnh khác trong nhân vật bé Thu. Ở đây, cô bé là một người rất hồn nhiên, ngây thơ, dễ thương và cần sự yêu thương, dỗ dành. Khác hẳn với một cô bé cứng cỏi, lì lợm của hằng ngày. Nhưng đối với hôm đó khi cô bé đã nghe bà ngoại kể về chuyện nhận vết sẹo và chứng mình được rằng ông Sáu là cha, cô bé im lặng: “thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”.

Đến đoạn cuối khi nhận cha. Bé Thu đã trở thành một cô bé giàu tình cảm. Tình cha con mà bé Thu giữ gìn ấp ủ bấy lâu nay giờ đã trỗi dậy. Sáng hôm đó, bé Thu đã được bà ngoại dẫn về nhà. Trong đầu bé Thu lúc này là những ý nghĩ rất hỗn loạn. Hình ảnh người cha lí tưởng, đáng tự hào mà ấp ủ và vun đắp trong tám năm trời đã ngăn cho nó không nhận người đàn ông xa lạ kia là ba. Những suy nghĩ này đã khiến một cô bé cứng cỏi lại như thể bị bỏ rơi. Bé Thu đã đứng dõi theo tất cả những hành động của mọi người. Đến khi ông Sáu nói lời tạm biệt thì tình cảm của bé Thu đã trỗi dậy một cách mãnh liệt. Cô bé đã kêu ông Sáu là: “Ba!”. Tiếng kêu của cô bé như làm xé đi không gian yên tỉnh, xé đi lòng người. Vừa kêu, con bé chạy tới ôm lấy ba nó: “Nó dang cả chân câu chặt ba nó.” Có thể nó nghĩ đôi bàn tay đó không thể giữ ba nó ở lại. Tiếp theo là một hành động khiến mọi người xúc động: “nó hôn lên tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn lên vết sẹo dài trên má của ba nó” Hành động này cho ta thấy bé Thu rất thương ba mình và yêu cả vết sẹo. Vết sẹo như là một chứng minh cho sự yêu nước của ông Sáu và việc hôn lên vết sẹo cũng là sự minh chứng cho sự tự hào của bé Thu đối với ba của mình. Trước khi ông Sáu trở về căn cứ bé Thu đã kêu ông Sáu tặng cho cô bé một chiếc lược. Chiếc lược ở đây là món quà duy nhất mà bé Thu muốn được ba mình tặng. Đây cũng chính là món quà duy nhất mà ông Sáu có thể tặng cho con của mình. Chiếc lược ngà như một kỉ vật nói lên tình cha con của cô bé.

Nhân vật bé Thu thể hiện tính cách kiên quyết và lì lợm của một cô bé có những suy nghĩ lớn hơn tuổi. Cô rất thương cha mình mặc dù hai người xa cách nhau từ khi cô một tuổi. Trước khi nhận ông Sáu là cha, cô bé đã rất cứng rắn, quyết định không nhận ông Sáu là cha, cô bé đã rất cứng rắn, quyết định không nhận ông Sáu là cha nhưng khi tiếng tạm biệt từ ba của mình cô bé đã dành tất cả tình cảm vào giây phút cuối cùng. Tình cảm của cô bé như “giọt nước tràn ly” và tiếng nói của ông Sau như chất xúc tác để tình cảm của cô bé được bộc lộ. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý, đoạn trích chiếc lược ngà đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.Truyện đã thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu. Nhan đề “Chiếc lược ngà” đã nhấn mạnh chiếc lược làm bằng ngà mà bé Thu đã nhờ ba của mình ông Sáu tặng cho mình khi trở về thăm con. Chiếc lược như một kỉ vật để tiếp thêm sức mạnh, nghị lực cho bé Thu. Chiếc lược là nhân chứng cho tình yêu và nhân chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh.

Qua tác phẩm và đặc biệt là nhân vật bé Thu đã cho ta thấy được tình cảm rất thiêng liêng giữa phụ tử. Dù trong cả chiến tranh thì tình yêu đó vẫn được trong chính người cha là ông Sáu và đứa con gái là bé Thu. Bây giờ, khi đất nước đã hòa bình, chúng ta đang có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vậy chúng ta nên trân trọng những gì ta đang có và cái cần trân trọng nhất đó là tình cảm gia đình.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 15

“Chiếc lược ngà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Truyện được sáng tác năm 1966 tại chiến trường miền Đông Nam Bộ khi nhân dân miền Nam đang kiên cường chống Mĩ. Tác phẩm ca ngợi tình cha con sâu nặng, thiêng liêng trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Bé Thu, nhân vật chính trong truyện, hiện lên là một cô bé gan lì, bướng bỉnh, có cá tính nhưng cũng rất yêu thương cha.

Bé Thu là con gái đầu lòng của ông Sáu và cũng là đứa con duy nhất của ông. Bé Thu chưa một lần được sống trong vòng tay yêu thương của ba bởi ông Sáu đi kháng chiến biền biệt từ khi em còn rất nhỏ. Trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ, bé Thu luôn khao khát được gặp ba nhưng ước mơ nhỏ bé ấy lại không thực hiện được. Em chỉ có thể nhìn thấy người ba trong tấm hình chụp chung với má. Nhưng khi ông Sáu trở về, bé Thu lại không nhận ba và luôn cự tuyệt mọi tình cảm của ông.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông Sáu được nghỉ phép ba ngày để về thăm gia đình. Bé Thu không được báo trước điều này nên khi gặp ba ở bến xuồng, với sự vồ vập xúc động của ba, Thu tỏ ra ngờ vực và hoảng sợ. Cô bé giật mình, tròn mắt khi nhìn thấy một người đàn ông với khuôn mặt đáng sợ cùng vết thẹo dài đỏ ửng tiến về phía mình, vừa nói giọng run run: “Thu, ba đây con”.

Nhưng cô bé lại chạy đi và kêu lên gọi má. Tất cả những hành động đó của bé Thu đều trái với niềm mong mỏi của ông Sáu nhưng lại phù hợp với tâm lý trẻ thơ. Bé Thu không nhận ba vì em chờ đợi một người cha khác, một người cha anh hùng, trẻ đẹp giống như trong tấm hình của má.

Tưởng như đó chỉ là những phản ứng ban đầu của em, rồi sau đấy Thu sẽ vô cùng quấn quýt bên ông Sáu ba mình. Vậy mà mấy ngày sau, bé Thu luôn nhìn ông Sáu với cặp mắt xa lạ, cảnh giác. Ông Sáu càng vỗ về thì cô bé càng đẩy ra xa. Khi má kêu mời ba vô ăn cơm thì cô bé nói trống không, thậm chí gọi ông Sáu là “người ta” với thái độ bực tức.

Khi nồi cơm sôi, cô bé tự chắt nước nồi cơm mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ, điều đó cho thấy Thu là một cô bé thông minh, đáo để. Khi ông Sáu gắp cái trứng cá để vào chén, Thu lấy đũa xoi vào chén rồi bất thần hất cái trứng cá ra làm cơm văng tung tóe cả mâm. Bị đánh, cô bé gan lì không khóc mà bỏ sang nhà bà ngoại, khi đi còn cố khua dây xuồng kêu lên thật to như là một sự thách thức.

Những phản ứng của bé Thu ngày càng quyết liệt, từ chỗ ngấm ngầm đến rõ ràng, mạnh mẽ. Nhà văn đã thể hiện cá tính khá đặc biệt của Thu trong một tình huống bất ngờ. Thu cứng đầu nhưng rất thông minh. Sự ương ngạnh của em là hoàn toàn có lý và không đáng trách bởi em không biết vết thẹo trên gương mặt ba là do chiến tranh để lại. Tác giả đã tìm ra được nguyên nhân phù hợp với tâm lý trẻ thơ để nêu lên lý do vì sao Thu không nhận ba.

Điều cảm động ở đây là bé Thu càng phản ứng mạnh mẽ càng cho thấy tình yêu thương ba tha thiết. Em chỉ chấp nhận người ba giống như trong tấm hình với má. Chi tiết vết thẹo không chỉ có giá trị lớn trong việc xây dựng tình huống, bộc lộ tình cảm cha con mà còn có giá trị tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm chia cắt từng gia đình, khiến người ta đau đớn cả về vật chất lẫn tinh thần.

Câu chuyện dường như rơi vào bế tắc, ba ngày về phép của ông Sáu tưởng như vô nghĩa vì bé Thu bỏ về nhà ngoại. Nhưng đúng lúc ông Sáu lên đường, bé Thu bất ngờ nhận ba. Đêm hôm trước, nghe bà giảng giải về vết thẹo trên mặt ba, Thu nằm im, lăn lộn, thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn.

Sáng hôm sau, bé theo bà về nhưng chỉ dám đứng nhìn ba từ xa. Vẻ mặt sầm lại buồn rầu, cái nhìn không ngơ ngác lạ lùng mà có vẻ nghĩ ngợi sâu xa. Đến khi, ông Sáu cất tiếng nói: “Thôi ba đi nghe con” thì tình phụ tử bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Thu kêu thét lên: “Ba…a….a…a”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người. Đó là tiếng gọi mà cô bé cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng gọi ba như vỡ tung ra từ đáy lòng.

Một loạt những cử chỉ, hành động được Nguyễn Quang Sáng miêu tả cụ thể, sinh động: “Nó nhảy thót lên, ôm lấy cổ ba, nó hôn tóc, hôn vai, hôn cổ, hôn cả vết thẹo dài trên mặt ba nó”. Cái vẻ ương ạnh, bướng bỉnh đã biến mất, bây giờ chỉ còn là bé Thu nhõng nhẽo, đang cố ôm chặt lấy ba vì sợ ba đi mất. Rồi cũng rất trẻ con khi Thu nghĩ hai tay không giữ được ba nên dang cả hai chân để ôm chặt lấy ông Sáu.

Đôi vai của nó rưng rưng. Những chi tiết sinh động đầy kịch tính đã diễn tả thành công sự bùng nổ mạnh mẽ, sự đột phá dữ dội của tình cảm. Bao nhiêu yêu thương, mong đợi dồn nén giờ đây vỡ òa trong những giọt nước mắt, giọt nước mắt yêu thương, nghẹn ngào xen lẫn cả sự hối hận.

Thu chỉ được gặp ba một lần duy nhất và sau đó ông Sáu đã ra đi mãi mãi. Tiếng ba mà cô bé đã cất tiếng gọi trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết. Nhưng khi đã hiểu, Thu càng thêm yêu, thêm tự hào về người cha anh hùng để rồi sau này em bước tiếp vào con đường giải phóng dân tộc và trở thành một cô giao liên thông minh và dũng cảm.

Cả đoạn truyện là một bài thơ cảm động về tình cha con bất diệt trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Bé Thu có nét cá tính ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ, có tình yêu cha nồng thắm. Qua nhân vật bé Thu, Nguyễn Quang Sáng đã gửi một mong ước giản dị, gần gũi của trẻ thơ là được sống trong vòng tay yêu thương êm ấm của gia đình.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 16

Tình cảm gia đình là một đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Khai thác mảng đề tài này, Nguyễn Quang Sáng đã có một số tác phẩm đặc sắc như “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”,.. Trong đó, “Chiếc lược ngà” tạo được nhiều ấn tượng hơn cả. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chính – nhân vật bé Thu – một cô bé cá tính, đáng yêu và có tình yêu ba tha thiết.

“Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966 rồi được đưa vào tập truyện cùng tên (Chiếc lược ngà) của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện được xây dựng trên một tình huống hiểu lầm tạo nhiều bất ngờ cảm động: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

Nhân vật cô bé tám tuổi ấy là Thu, mới có tám tuổi nhưng cô đã bướng bỉnh, gan góc và rất có cá tính. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ông Sáu là ba dù cả nhà – trong đó có bà nội – thừa nhận điều đó. Họ đón ông với tất cả tấm lòng chân thành, yêu thương của con người Nam Bộ. Chẳng những thế, ông còn vô cùng xúc động khi gặp nó. Nhưng bỏ qua tất cả, Thu vẫn hét lên sợ hãi khi ông Sáu lập cập đến với nó và lắp bắp gọi: “Thu! Ba đây con…”. Có điều đó bởi Thu thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má.

Không chỉ vậy, qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu Nguyễn Quang Sáng vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm”, Thu gọi “trổng” “vô ăn cơm”. Nồi cơm sôi, không tự chắt được con bé nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Nó tìm mọi cách chắt nước không cần nhờ vả. Đặc biệt, tính cách rắn rỏi, ngang bướng vô cùng trẻ con của Thu được thể hiện qua chi tiết bé hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu “con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giãy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.”. Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu đã trở thành tiền đề để sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, Thu cùng “Chiếc lược ngà” sẽ nằm lẫn vào vô vàn tác phẩm khác viết cho thiếu nhi. Điều khiến nhân vật cùng tác phẩm đi xa hơn trong lòng người đọc là ở chỗ bé Thu có một tình yêu ba nồng nàn, tha thiết.

Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Cô đã nghĩ rằng “người ta” mang đến cho mình một người “ba giả”! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt người “ba giả” ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.

Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó, vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sẩm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa. ” Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba, a… a…ba! Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.

Trong quá trình thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật bé Thu có một chi tiết vô cùng quan trọng: chi tiết cái thẹo. Chính cái thẹo là nguyên nhân gây ra những hiểu lầm trong tình cảm của cha con mà Thu dành cho ba. Cái thẹo là vết thương mà giặc Mĩ gây ra cho ba Thu. Sự chia cắt gia đình không chỉ riêng gia đình bé Thu mà còn hàng triệu gia đình người Việt cũng là do giặc Mĩ gây ra. Thấu hiểu sâu sắc điều đó, sau này, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.

Xây dựng nhân vật bé Thu – một cô bé bướng bỉnh, cá tính nhưng có tình cảm yêu ba tha thiết cảm động – Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ bởi vậy nhà văn đã tạo nên được một nhân vật trẻ thơ thực sự sống động gây nhiều niềm xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm đã tạo nên một tình huống hiểu lầm độc đáo mà chi tiết quan trọng nhất là chi tiết cái thẹo. Chi tiết này có giá trị giống như một “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ hay “chiếc lá cuối cùng” trong truyện ngắn cùng tên của Ô Hen-ri,…

Nhân vật bé Thu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc bởi một tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật này đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Và vì vậy, cùng với tác phẩm, nhân vật bé Thu đã giành được một vị trí riêng trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Việt Nam.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 17

Có những trang viết khiến người đọc rơi nước mắt khi chứng kiến những giằng xé, đau đớn và cả nước mắt. Có những nhân vật dù chỉ được vẽ qua nét bút của tác giả nhưng có sức ám ảnh. Nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’ của Nguyễn quang sáng là một hình tượng luôn khiến người đọc xúc động mạnh khi lật giở từng trang viết của tác giả.

“Chiếc lược ngà” được sáng tác năm 1966, trong lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra ác liệt, nhiều cam go. Ông Sáu lên đường ra chiến trận khi bé Thu chưa tròn một tuổi, nhưng khi ông trở về thăm con thì bé đã lớn và nhất quyết không nhận ba. Những day dứt, sự giằng xé, nước mắt, tủi hờn, mâu thuẫn nội tâm trong một đứa bé đã khiến cho cốt truyện được đẩy đến cao trào. Ba ngày ở cạnh ba nhưng bé Thu nhất quyết không chịu nhận, chỉ khi nghe bà ngoại kể về vết thẹo trên gương mặt ba thì lúc đó bé mới ôm chặt ông Sáu, không cho đi. Tình cảm cha con vỡ òa, cảm xúc trong lòng người đọc cứ thế tan chảy.

Mặc dù mới lên 8 tuổi nhưng bé Thu được xây dựng rất sắc nét, cá tính mạnh, bướng bỉnh. Trong tâm trí của bé Thu chỉ có một tấm hình duy nhất của ba chụp với má vào ngày cưới. Đó là những gì nó có để gìn giữ và đợi chờ ba trở về. Khi ông Sáu nhất quyết gọi “Thu! Ba đây con”thì bé vẫn nhất quyết không chịu nhận, cự tuyệt một cách thẳng thừng. Ông Sáu luôn dành tình cảm yêu thương chân thành và sâu sắc nhất cho bé Thu nhưng ông nhận lại là sự lạnh lùng, xa lánh. Chỉ bởi về vết thẹo dài trên mặt, chỉ vì chiến tranh, vì những tàn khốc mà nó đã gây ra. Cá tính mạnh của một cô bé 8 tuổi được Nguyễn Quang Sáng thể hiện rất sắc nét và táo bạo. Qua đó giúp người đọc hình dung được sự kiên định, vững chắc trong trái tim con người Nam Bộ.

Sự bướng bỉnh, lạnh lùng của bé Thu dành cho ông Sáu còn thể hiện qua cử chỉ và lời nói. Khi mẹ bảo mời ba vô ăn cơm thì nó chỉ nói cộc lốc “vô ăn cơm”. Đặc biệt qua chi tiết chắt nước ở nồi cơm ra, bé Thu không chắt được nhưng nhất quyết không để cho ông Sáu chắt. Bướng bỉnh, lạnh lùng, hờ hững đã khiến cho ông Sáu đau lòng. Cao trào của tính cách bé Thu thể hiện qua bữa cơm, khi ông Sáu gắp cho bé Thu cái trứng cá vào bát, bé hất đổ cả chén cơm. Ông Sáu đánh đòn, và tất cả mọi người cứ tưởng Thu sẽ giãy nảy lên và bỏ đi, nhưng không, “Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm”.

Suy nghĩ đã thôi thúc, đẩy thành hành động quyết liệt, khước từ mọi tình cảm và yêu thương của ba dành cho mình. Vì với bé Thu, đó không phải là ba. Có lẽ chính cá tính mạnh, sự ngang bướng như thế này đã thôi thúc cô trở thành cô giao liên kiên cường trong cuộc kháng chiến về sau.

Nguyễn quang sáng không chỉ dừng lại ở việc miêu tả tâm lí nhân vật của một đứa trẻ lên 8 mà lấy tính cách đó làm tiền để cho tình yêu thương ba tha thiết và mãnh liệt như thế nào. Suốt 3 ngày ở cạnh ba nhưng bé Thu nhất quyết không nhận ba, chỉ đến khi nghe bà ngoại kể về vết thẹo trên mặt ba do chiến tranh gây nên thì lúc đó bé thu mới vỡ òa. Gương mặt nó buồn rầu như nghĩ ngợi gì, khi ông Sáu lên đường ra trận, không dám lại gần vì sợ nó lại giãy nảy như lần trước. Chỉ dám nói rằng“Ba đi nghe con”nặng nề, đau đớn, dằn vặt của một người ba nhưng không làm cách nào để thuyết phục con gái.

Lúc ấy một cảnh tượng xúc động diễn ra. Nó khóc thét lên“ba”, tiếng “ba” như vỡ òa, trào ra từ tận trong tim mà nó đã dồn nén bao nhiêu năm qua. Tiếng“ba” đó như khiến người đọc nghẹn đắng ở cổ họng, cho một tình yêu bền bỉ và sâu nặng. Tiếng kêu của bé Thu như tiếng xé, xé tan không khí tĩnh lặng, xé ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Bao nhiêu năm rồi, bé Thu vẫn luôn khát khao được gặp ba, được gọi tiếng ba. Tình cảm của bé Thu hoàn toàn đối lập với những ngày ông Sáu còn ở đây. Đó chính là niềm khao khát, tình yêu ba tha thiết.

Sự ngang tàng, bướng bỉnh và tình yêu ba tha thiết là đặc điểm hội tụ để bé Thu có thể xác định cho mình con đường đi trong tương lai, sẽ nối bước cha, đánh đuổi kẻ thù xâm lược

Như vậy việc xây dựng nhân vật bé Thu với những tính cách, tâm tư tình cảm đã khiến người đọc thêm xúc động về tình phụ nữ, tình cảm thiêng liêng nhất. Qua đó, tác giả còn muốn lên án, tố cáo chiến tranh đã khiến cho nhiều gia đình rơi vào cảnh nước mất nhà tan.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 18

Tuốt gươm không chịu sống quỳ Tuổi

xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu

Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành.

(Tiếng hát sang xuân, Tố Hữu)

Vần thơ ấy gợi nhớ trong ta về thế hệ trẻ Việt Nam anh hùng thời đánh Mĩ. Hình ảnh nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng đã cho ta nhiều cảm xúc. Nhà văn Nguyễn Qụang Sáng đã dành cho bé Thu bao tình cảm quý mến và trân trọng. Bé Thu là nhân vật trung tâm của câu chuyện, được tác giả khắc hoạ hết sức tinh tế và chân thực, là một cô bé tình cảm, cá tính, bướng bỉnh và gan góc.

Cuộc chiến tranh tàn khốc đã gây ra bao cuộc sinh li tử biệt, vợ xa chồng, cha xa con, cả gia đình li tán… Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng, xương máu của biết bao người con Việt Nam, nhưng cũng trong chiến tranh, những tình cảm thiêng liêng nhất của con người đã được bộc lộ một cách mãnh liệt nhất: tình yêu đôi lứa, tình đồng chí đồng đội, tình yêu quê hương, và đặc biệt nhất là tình cảm gia đình.

Truyện kể về ông Sáu thoát li tham gia kháng chiến khi bé Thu – con gái ông chưa đầy một tuổi. Sau tám năm, ông được phép về thăm nhà nhưng bé Thu không chịu nhận ông là cha vì trên mặt ông có một vết sẹo. Ông càng vỗ về, con bé càng đẩy ra, nó còn gọi ông là “người ta”. Thậm chí, nó còn hất tung cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho. Bị cha đánh, nó chèo xuồng qua nhà ngoại, được ngoại giải thích, bé Thu hiểu ra mọi chuyện và gọi ông Sáu tiếng “ba” đầy xúc động. Nhưng trong một trận càn, ông Sáu đã hi sinh, ông chỉ kịp trao chiếc lược ngà cho bác Ba – người bạn chiến đấu để đem về cho bé Thu. Đọc truyện, ta thấy tình cha con thiêng liêng sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu được thể hiện một cách chân thật và xúc động trong hoàn cảnh chiến tranh. Tình cảm của Thu đối với cha được thử thách bởi thời gian, bởi chiến tranh khiến người đọc không khỏi xúc động. Gần tám năm xa cách, bé Thu chưa một lần nào được ở cạnh ba, được ba yêu thương, vỗ về, ôm vào lòng và chưa bao giờ được gọi tiếng “ba” thân thương. Chính vì thế, nỗi khao khát, mong ước được gặp cha, được gọi tiếng “ba”, được yêu thương cha và được cha thương yêu đang rất mãnh liệt trong Thu. Thế nhưng, khi gặp ông Sáu, Thu không những không chịu nhận cha mà còn có phản ứng thật quyết liệt và dữ dội: “Thu tái mặt đi rồi vụt chạy và kêu thét lên: Má! Má!”… Trong những ngày ở nhà, ông Sáu càng vỗ về, Thu càng lảng tránh. Cô bé còn nói trống không với ông và kêu ông là “người ta”. Khi ông Sáu gắp cho Thu cái trứng cá thì cô bé hất ra khỏi chén làm cơm văng tung tóe. Thái độ của bé Thu thật đáng trách, đáng giận. Nhưng khi ta biết được nguyên nhân thì Thu không đáng trách mà còn đáng thương, đáng trân trọng biết nhường nào! Cô bé không chấp nhận người đàn ông có vết thẹo trên má là cha mình vì không ai có thể thay thế được hình ảnh người cha trong tấm hình đã ngự trị trong trái tim bé bỏng của cô. Điều đó chứng tỏ Thu luôn yêu thương, kính trọng cha; luôn luôn giữ hình ảnh người cha thân yêu như một báu vật mà không ai có thể xâm phạm và ép buộc. Và khi hiểu ra được sự việc, Thu “nằm im, lăn lộn, thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Có lẽ cô bé đang cảm thấy hối hận lắm vì những điều đã làm với người cha của mình. Giây phút chia tay tình cha con trỗi dậy trong Thu. Tiếng gọi “ba” của Thu như tiếng xé, xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người. Chắc rằng Thu không thể nào biết được đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng “ba” cuối cùng trong cuộc đời mình. Cô bé thật tội nghiệp! Thu chạy tới chỗ ông Sáu, nhảy thót lên, hai tay ôm chặt ông rồi “hôn lên má, lên cổ, lên vai và lên cả vết thẹo dài trên má” ông Sáu. Chứng kiến cảnh đó ai mà không khỏi xúc động! Tâm lí ngờ vực chỉ vì vết sẹo đã được giải toả. Vì thế trong phút chia tay với cha, tình yêu và nỗi mong nhớ suốt bao năm trời bị dồn nén nay trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cảnh tượng ấy diễn ra thật xúc động lòng người. Chắc cô bé đã khóc khóc vì ân hận đã không nhận ra cha, khóc vì xót thương người cha vì chiến tranh mà phải xa gia đình. Chỉ vì bom đạn quân thù mà cha đã mang vết sẹo trên mặt. Được bà ngoại giải thích, Thu đã hiểu. Nhưng khi cô bé hiểu ra thì ông Sáu lại phải xa gia đình trở về chiến trường. Vì vậy mà bé Thu mới siết chặt lấy người cha, như muốn đền bù những hành động sai lầm của mình. Từ giây phút bé Thu thức tỉnh, tình cảm, tính cách của Thu đã thay đổi, sự ương ngạnh của cô bé tám tuổi đã không còn, mà thay vào đó là tình yêu thương và tự hào về cha. Cuộc chia tay của bé Thu với cha không ngờ là cuộc chia tay lần cuối, là lúc ông Sáu xa Thu vĩnh viễn, không thực hiện được lời hứa “ba đi rồi ba về với con”. Quả thật, đó là thứ tình cảm không gì có thể sánh bằng, chân thật, sâu sắc và cảm động nhất.

Xuyên suốt đoạn trích, trong hai hoàn cảnh và hai cách ứng xử hoàn toàn khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một tấm lòng yêu cha sâu sắc và mãnh liệt của bé Thu – một em bé mới chỉ tám tuổi. Tuy nhiên, Thu trước sau vẫn chỉ là một cô bé ngây thơ, em đồng ý cho ba đi để ba mua một chiếc lược, món quà nhỏ mà bất cứ em bé gái nào cũng ao ước. Bắt đầu từ chi tiết này, chiếc lược ngà bước vào câu chuyện, trở thành một chứng nhân âm thầm cho tình cha con thiêng liêng, bất tử.

Đoạn trích kết thúc trong ánh mắt thiết tha của ông Sáu trước lúc hi sinh nhờ bác Ba trao cây lược ngà cho Thu. Với bé Thu, cây lược nhỏ mang dòng chữ đầy yêu thương “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” là kỉ vật chứa đựng tình thương, nỗi nhớ, hình bóng, tấm lòng người cha. Chiếc lược ngà đã động viên em vững vàng trong cuộc chiến đấu. Khi bác Ba tình cờ gặp lại Thu và trao cây lược, thì cô bé bướng bỉnh, cá tính ngày nào đã trở thành cô giao liên dũng cảm. Cô đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.

Truyện được trần thuật theo lời người bạn ông Sáu – bác Ba – người đã chứng kiến cảnh ngộ éo le của cha con ông nên bày tỏ được sự đồng cảm, chia sẻ khiến cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, có sức thuyết phục cao. Cách xây dựng tình huống truyện đặc sắc, rất tự nhiên và hợp lí. Ngôn ngữ truyện trong sáng, dân dã, mang đậm bản chất của con người Nam Bộ. Bên cạnh đó, tác phẩm đã tạo nên một tình huống hiểu lầm độc đáo mà chi tiết quan trọng nhất là chi tiết “vết thẹo”. Chi tiết này có giá trị giống như “cái bóng” trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ hay Chiếc lá cuối cùng trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn o. Hen-ri…

Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật bé Thu – một cô bé có tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ, dứt khoát (đến nỗi nhìn thoáng qua, người ta có thể cho là ương ngạnh, bướng bỉnh, khó bảo) nhưng cũng hết sức hồn nhiên, đáng yêu, ngoan ngoãn và có tình yêu cha sâu sắc. Có thể kể đến cách tạo tình huống bất ngờ, sự am hiểu tâm lí và tính cách trẻ em, cách chọn chi tiết nghệ thuật “đắt” (như chi tiết bé Thu không gọi ba, chi tiết bé Thu loay hoay chắt nước cơm, hất cái trứng cá ba gắp cho, chi tiết xin cây lược trước lúc ba đi). Nhờ những thành công nghệ thuật này mà nhân vật bé Thu để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình người – tình cha con trong những năm tháng chiến tranh xa cách, thương đau, để lại ấn tượng về một em bé Nam Bộ thời chiến với tính cách đáng yêu, đáng mến.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 19

Có một nhà văn đã nói rằng:“Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống viết ra”.Cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân tộc ta với biết bao câu chuyện đã trở thành huyền thoại được các nhà văn ghi lại như những câu chuyện cổ tích hiện đại. Trong số ấy phải kể đến“Chiếc lược ngà”của Nguyễn Quang Sáng. Nhân vật bé Thu trong truyện đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc về tình thương cha mãnh liệt và có cá tính mạnh mẽ.

Ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam bộ trong 30 năm chiến tranh, “Chiếc lược ngà” được kể lại qua sự chứng kiến của bác Ba, người đồng đội của anh Sáu. Người đã lặng lẽ dõi theo từ đầu đến cuối câu chuyện cảm động của cha con anh Sáu- bé Thu. Qua sự quan sát tinh tế, sâu sắc của bác Ba, chúng ta mới thấm thía hết nỗi đau của người dân Nam bộ trong chiến tranh và sức mạnh của tình cha con thiêng liêng, bất tử.

Bé Thu trong câu chuyện, cũng như bao cô bé miền Nam khác đều thiếu thốn tình cha từ nhỏ do cuộc chiến tranh. Khi anh Sáu ra đi, em chưa đầy một tuổi, tám năm trời, cha con em chỉ biết nhau qua hai tấm ảnh. Lần về phép ba ngày của anh Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ nhau, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng nhà văn lại đặt bé Thu vào một tình huống đầy éo le: vì một sự hiểu lầm trẻ con, Thu không chịu nhận anh Sáu là ba, đến lúc nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tập kết. Và lần gặp mặt ấy, là lần gặp mặt đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con em.

Tuy nhiên, từ tình huống truyện éo le ấy, người đọc vẫn nhận ra đặc điểm riêng, cá tính riêng của nhân vật bé Thu: một cô bé tám tuổi bướng bỉnh nhưng dễ thương và đặc biệt có tình yêu ba sâu sắc, mãnh liệt. Tình yêu ấy được thể hiện trong hai hoàn cảnh trái ngược nhau, trước và sau khi nhận ra ba.

Lúc chưa chịu nhận anh Sáu là ba, Thu là một cô bé trẻ con, bướng bỉnh và đáo để đến nỗi làm anh Sáu đau lòng vì thái độ khước từ tình thương ba dành cho em. Phút đầu tiên hai ba con gặp mặt, trái ngược với nỗi mong nhớ, sự sốt ruột và suy nghĩ của anh Sáu, bé Thu vụt chạy đi, nét mặt đầy sợ hãi kêu “má, má” để lại anh Sáu đứng một mình “nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai cánh tay buông xuống như bị gãy”. Trong ba ngày anh Sáu ở nhà, anh không dám đi đâu vì muốn ở bên con, vỗ về, chăm sóc và bù đắp sự thiếu thốn trong 8 năm qua cho nó nhưng bé Thu lại tỏ ra cứng đầu, không chịu nhận anh, cũng không chịu gọi anh một tiếng “ba” dù chỉ một lần. Nhà văn đã xây dựng một loạt các chi tiết để miêu tả tâm lí, thái độ rất trẻ con, cố chấp của bé Thu. Khi má bắt kêu ba vô ăn cơm, dọa đánh để cô bé gọi ba một tiếng, Thu vẫn chỉ nói trống không“vô ăn cơm! cơm chín rồi”,“con kêu rồi mà người ta không nghe”.Hai tiếng“người ta”mà Thu thốt lên làm anh Sáu đau lòng đến mức“không khóc được, chỉ khe khẽ lắc đầu cười”. Thậm chí, ngay cả khi bị má đặt vào một hoàn cảnh khó khăn để buộc Thu gọi anh Sáu một tiếng ba là chắt nước nồi cơm to đang sôi, Thu cũng lại nói trống không“cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái”.Sự im lặng của anh Sáu và cả sự gợi ý của bác Ba đều không thể làm cô bé gọi tiếng “ba” đơn sơ, giản dị. Tiếng gọi mà mỗi đứa trẻ đều ghi nhớ và bập bẹ lần đầu tiên trong cuộc đời mình. Đỉnh điểm của sự kiên quyết chối từ tình yêu thương của anh Sáu trong bé Thu là chi tiết cái trứng cá trong bữa cơm gia đình. Bằng lòng thương con của người cha, anh Sáu gắp cái trứng cá ngon nhất vào chén cơm của Thu nhưng con bé bất thần hất nó ta khỏi chén cơm. Nỗi đau khổ trong ba ngày nén chịu trào lên, anh Sáu đánh con, Thu không khóc, lầm lì bỏ trứng cá lại vào chén cơm và bỏ sang nhà bà ngoại, lúc đi còn cố ý khua dây tiếng cho thật to. Những chi tiết bình thường mà tinh tế này chứng tỏ nhà văn rất thấu hiểu tâm lí trẻ em.

Trẻ con vốn rất thơ ngây nhưng cũng đầy cố chấp, nhất là khi chúng có sự hiểu lầm, chúng kiên quyết chối từ tình cảm của người khác mà không cần cân nhắc, nhất là với một cô bé cá tính, bướng bỉnh như Thu. Người đọc nhiều khi thấy giận em, thương cho anh Sáu. Nhưng thật ra em vẫn là cô bé dễ thương. Sự ương ngạnh của Thu không hoàn toàn đáng trách. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế éo le, khắc nghiệt của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón nhận những khả năng bất thường. Chính thái độ ngang ngạnh , quyết liệt của bé Thu lại thể hiện sâu sắc tình cảm yêu thương dành cho ba. Đơn giản Thu không nhận ra cha là vì người tự nhận là ba kia không hề giống người cha mà em đã thấy trong bức ảnh. Ba em trong ảnh không có vết sẹo dài trên mặt như thế. Cô bé không tin, thậm chí là ngờ vực. Không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng của Thu, nghĩa là bé Thu chỉ dành tình cảm cho người cha duy nhất trong bức ảnh. Sự bướng bỉnh của Thu phải chăng còn là mầm sâu kín, sau này làm nên tính cách cứng cỏi ngoan cường của cô giao liên kiến định có lập trường.

Sự nghi ngờ của Thu được giải tỏa khi nghe bà ngoại giải thích vì sao ba lại có vết thẹo dài trên má. Nghe những điều ấy, “nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Bởi thế, tình yêu ba trong Thu đã trỗi dậy mãnh liệt vào cái giây phút bất ngờ nhất, giây phút ông Sáu lên đường. Cái tiếng “ba” mà ông Sáu đã chờ đợi từ lâu bất ngờ vang lên “Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, đến lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: – Ba…a…a…ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng, xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay như vỡ tung từ đáy lòng nó”. Tiếng gọi thân thương ấy đứa trẻ nào cũng gọi đến thành quen nhưng với cha con Thu là nỗi khát khao của 8 năm trời xa cách thương nhớ. Đó là tiếng gọi của trái tim, của tình yêu trong lòng đứa bé 8 tuổi mong chờ giây phút gặp ba. Nó vừa kêu, vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:-Ba!Không cho ba đi nữa!Ba ở nhà với con!”.Tình cảm con với ba được thể hiện một cách mãnh liệt, mạnh mẽ, cuống quýt, hối hả và có xen lẫn phần hối hận. Đó là những cảm xúc đã dồn nén từ lâu bỗng vỡ òa ra: “Ba bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc,hôn cổ, hôn vai, và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Bà con và người kể chuyện cũng như người đọc không thể kìm được nỗi xúc động như có ai đang nắm chặt tim mình bởi vì cái éo le của tình cha con ở đây. Lúc cha con nhận nhau lại cũng chính là lúc người cha phải ra đi. Sự níu kéo của đứa con càng khắc nhấn sự éo le của chiến tranh: “Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Những nỗ lực của Thu không giữ được ba nó. Ông Sáu vẫn phải ra đi dù giây phút cha con nhận nhau thật ngắn ngủi! Xót thương thay cho Thu bởi cô đâu hiểu rằng cuộc gặp gỡ đầu tiên này cũng là lần cuối cùng. Ba cô đã hi sinh trong một trận càn. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.

Xuyên suốt đoạn trích, trong hai hoàn cảnh và hai cách ứng xử hoàn toàn khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một tấm lòng yêu cha sắt son của bé Thu – một em bé mới chỉ tám tuổi. Tuy nhiên, Thu trước sau vẫn chỉ là một cô bé ngây thơ, em đồng ý cho ba đi để ba mua một chiếc lược, món quà nhỏ mà bất cứ em bé gái nào cũng ao ước. Bắt đầu từ chi tiết này, chiếc lược ngà bước vào câu chuyện, trở thành một chứng nhân âm thầm cho tình cha con thiêng liêng, bất tử.

Đoạn trích kết thúc trong ánh mắt thiết tha của anh Sáu trước lúc hy sinh nhờ bác Ba trao cây lược ngà cho Thu. Với bé Thu, cây lược nhỏ mang dòng chữ đầy yêu thương “yêu nhớ tặng Thu con của ba” là kỉ vật chứa đựng tình thương, nỗi nhớ, hình bóng, tấm lòng người cha. Chiếc lược ngà đã động viên em vững vàng trong cuộc chiến đấu. Khi bác Ba tình cờ gặp lại Thu và trao cây lược, thì cô bé bướng bỉnh cá tính ngày nào đã trở thành cô giao liên dũng cảm. Và nguồn sức mạnh tiếp thêm cho Thu là tình yêu ba, tình yêu đất nước.

Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật bé Thu – một nhân vật trẻ em có tính cách cứng cỏi , mạnh mẽ , dứt khoát (đến nỗi, nhìn thoáng qua, người ta có thể cho là ương ngạnh, bướng bỉnh, khó bảo nhưng cũng hết sức hồn nhiên, đáng yêu, ngoan ngoãn và có tình yêu cha sâu sắc. Có thể kể đến cách tạo tình huống bất ngờ, sự am hiểu tâm lí và tính cách trẻ em, cách chọn chi tiết nghệ thuật “đắt” (như chi tiết bé Thu không gọi ba, chi tiết bé Thu loay hoay chắt nước cơm, hất cái trứng cá ba gắp cho,chi tiết cây lược mà Thu xin ba trước lúc ba đi. Nhờ những thành công nghệ thuật này mà nhân vật bé Thu để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình người – tình cha con trong những năm tháng chiến tranh xa cách, thương đau;để lại ấn tượng về một em bé Nam bộ thời chiến với tính cách đáng yêu, đáng mến.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 20

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn, là chiến sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông viết nhiều về con người Nam Bộ trong chống và chiến đấu, trong những năm chiến tranh ác liệt. “Chiếc lược ngà” là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn. Ông đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của tình cha con trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Kể về mối quan hệ cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Tác giả đã làm nổi bật lên hình ảnh bé Thu – một cô bé đầy cá tính, có tình yêu thương cha thật thắm thiết, mãnh liệt. Nhân vật bé Thu đã gieo vào lòng mỗi người về nỗi đau, sự mất mát và khát vọng yêu thương của tuổi thơ.

Nhân vật bé Thu được khắc họa trong một tình huống truyện thật độc đáo, sau tám năm dài xa cách, ngày hội ngộ bé Thu đã không chịu nhận ông Sáu là ba. Bé Thu còn có những phản ứng quyết liệt, xa lánh ông Sáu, thậm chí là biểu hiện vô lễ với ông. Nhưng bất ngờ đến lúc chia tay, bé Thu lại cất tiếng gọi ba cùng với những cử chỉ quyến luyến, không muốn xa ba. Những biểu hiện của bé Thu đã làm cho mọi người xung quanh phải xót xa, thương cảm cho một đứa bé sống trong chiến tranh thiếu vắng tình cha con. Có lẽ ai trong chúng ta khi đọc tác phẩm cũng đều không thể quên được hình ảnh của bé Thu vừa ương bướng, hồn nhiên, đáng yêu, vừa có tình yêu thương cha thắm thiết.

Từ nhỏ, bé Thu đã phải sống trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, hết chống Pháp rồi đến chống Mỹ. Chưa đầy một tuổi thì em phải xa cách người cha suốt tám năm dài, chưa hề được gặp cha một lần. Bé Thu khao khát tình cảm của người cha biết bao nhiêu. Đến khi gặp lại, em hụt hẫng vì cái vết sẹo dài trên mặt, em như lại phải xa ba thêm một lần nữa. Niềm hạnh phúc cứ xa mãi trong tầm tay của em vì chiến tranh, ba lại phải lên đường theo tiếng gọi của non sông trong kháng chiến chống Mỹ. Nỗi khao khát được gần ba theo ngày tháng vẫn cứ nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt. Mọi lời lẽ, cử chỉ của bé Thu đều gợi lên trong người đọc nỗi nhức nhối xen lẫn sự yêu thương, sự đồng cảm.

Bé Thu là một đứa bé ương bướng nhưng hồn nhiên, đáng yêu. Thu kiên quyết không chịu nhận ông Sáu là ba, không chịu gọi ba ngay từ lúc gặp ông Sáu lần đầu. Phản ứng của bé Thu thật bất ngờ, làm ông Sáu phải sững sờ, nó nghe ông Sáu gọi, nó giật mình tròn mắt nhìn ngơ ngác, nó hét lớn cầu cứu. Nó vụt chạy và kêu thét lên “Má! Má”. Chẳng những nó không nhìn nhận ông Sáu mà nó còn tỏ ra sợ hãi vì bỗng dưng có một người xa lạ tự xưng là ba nó. Trong tâm hồn non nớt của trẻ thơ, nó chỉ ghi khắc hình ảnh của người ở trong tấm ảnh chụp chung với má nó. Vết sẹo dài ửng đỏ trên khuôn mặt của người đàn ông kia trong cái nhìn của một đứa trẻ như nó thì hình ảnh đó thật đáng sợ. Ba nó có khuôn mặt đẹp không có vết sẹo. Chính cái nghĩ hồn nhiên ấy càng làm rõ hơn tình yêu cha thắm thiết của cô bé. Nó ương bướng không chịu gọi tiếng ba và luôn tìm cách xa lánh ông Sáu trong ba ngày phép của ông ở nhà. Nó nói trổng, nó hất tung cái trứng cá khi ông Sáu muốn thể hiện sự yêu thương, chăm sóc đối với con gái. Ông Sáu càng muốn gần gũi nó thì nó càng lùi xa, ông càng tỏ ý chiều thương thì nó lại càng lảng tránh. Nó không chấp nhận sự chăm sóc của người đàn ông mà nó cho là xa lạ, nhất định không phải là cha.

Bé Thu có những thái độ và suy nghĩ rất ngây thơ, rất đáng yêu. Đó là khi nó do dự gọi ba hay không lúc nó muốn nhờ ông Sáu chắt nước cơm giùm. Tiếng ba đối với nó rất quan trọng, nên nó rất phân vân và nó rất chắc lòng, chắc dạ khi quyết định không gọi tiếng ba. Rồi khi bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà ngoại mét với ngoại, nó như trút tất cả sự giận dỗi vào hành động khua sợi dây lò tói, xô mạnh chiếc xuồng ra… Những hành động ương bướng của Thu có thể làm cho người đọc nghĩ rằng nó ngỗ nghịch, nhiễu sách. Thế nhưng, nếu hiểu sâu xa hơn thì tất cả mọi biểu hiện ấy đều xuất phát từ tình yêu thương cha quá đỗi thắm thiết. Có hiểu được hoàn cảnh gia đình thời chiến, hiểu được khát vọng yêu thương của trẻ thơ thì mới cảm nhận được tình yêu cha của bé Thu nồng nàn đến dường nào.

Bé Thu có sự so sánh giữa người trong ảnh với người ở ngoài đời khác nhau ở vết sẹo, đó là nguyên nhân nó không nhận ông Sáu là ba. Tâm hồn, trái tim nó ấp ủ một hình ảnh duy nhất và không muốn ai thay thế. Nó chối từ cái dang tay của ông Sáu trong lần hội ngộ đầu tiên khiến ông Sáu bàng hoàng. Nó không gọi tiếng ba bởi vì tiếng ba ấy rất thiêng liêng, chỉ dành cho người ba đích thực. Đối với nó, ông Sáu là ba “giả”, những đau buồn, khổ tâm của ông Sáu không làm nó bận tâm. Không ai có thể tháo gỡ được những vướng mắc thầm kín trong lòng của cô bé. Tại sao phải gọi người đàn ông xa lạ kia là ba? Nó là đứa bé có lập trường, chính tình cảm yêu thương cha mãnh liệt đã khiến cho cô bé rất kiên định, quyết liệt. Và đây cũng chính là cái mầm sâu kín để làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của một cô giao liên mưu trí, dũng cảm sau này.

Tưởng chừng như tình cảm cha con không thể nối kết được nhưng khi Thu được nghe bà ngoại giải thích nguyên nhân vết sẹo trên má ông Sáu thì bé Thu hoàn toàn thay đổi thái độ, từ xa lánh nó lại khao khát được gần gũi, từ hờn giận nó chuyển sang yêu kính, tự hào. Trước lúc ông Sáu đi xa, tình cảm thiêng liêng giữa con với cha bỗng cháy bùng lên. Vết sẹo trên mặt ba nó là vết tích chiến tranh bị Tây bắn, vết thương chắc làm ba nó đau đớn lắm, thái độ lạnh lùng, xa cách của nó trong mấy ngày nay chắc làm ba nó đau lòng lắm. Nó đã gây ra vết sẹo trong trái tim của người cha. Cho nên trong buổi chia tay, nó đứng lặng lẽ ở góc nhà hướng về người cha với vẻ mặt “sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của bé trông rất dễ thương”, ấy chắc là có biết bao xúc động, ý nghĩ, tình cảm. Khi ông Sáu khoác ba lô lên đường, nói lời từ biệt, tiếng kêu ba của bé Thu vang lên chất chứa sự hối lỗi “Ba… a… a… ba !”, tiếng kêu xé lòng, “xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa” cùng cử chỉ nhảy thót lên, ôm chặt lấy cổ ba, “hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó nữa”. Đó là biểu hiện tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với cha, bé Thu muốn chuộc lại lỗi lầm và muốn thỏa tình cảm nhớ thương sau tám năm xa cách. Và khi nghe ông Sáu hứa hẹn “Ba đi rồi ba về với con” thì cô bé lại hét lên “Không !”, hai tay nó xiết chặt lấy cổ ba nó, rồi nó dang cả hai chân câu chặt lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run. Những dòng chữ trong câu chuyện đến đây chắn đã làm xốn xang trái tim bao bạn đọc. Mọi người lặng đi, con tim thổn thức, dường như nước mắt không thể chảy ra được mà chỉ có thể chảy ngược vào tim. Thương cho bé Thu trong cảnh ngộ éo le, tình yêu thương cha của bé Thu dường như đã xóa đi vết sẹo trong trái tim của người cha, để lại niềm vui trong hành trang người chiến sĩ khi ông Sáu lên đường. Tình cảm cha con thật thiêng liêng, vượt lên sự hủy diệt của chiến tranh.

Tình huống truyện kịch tính giữa không nhận và nhận ba là cả một quá trình diễn biến tâm lý đầy phức tạp. Nhưng thông qua đó, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên, vô tư và cả sự ương ngạnh, đáng yêu nhất là tình cha con thắm thiết. Kết hợp với phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả, biểu cảm, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm… Tác giả đã khắc họa nhân vật bé Thu là một đứa trẻ điển hình cho biết bao đứa trẻ trong chiến tranh phải trải qua những đau thương, mất mát, phải sống trong những năm dài xa cách người thân. Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, ta có thể thấy Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công trong việc miêu tả tâm lý trẻ thơ.

Nhân vật bé Thu đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn của bạn đọc. Càng yêu thương bé Thu bao nhiêu, chúng ta càng cảm thấy căm ghét chiến tranh bấy nhiêu. Chúng ta cần biết quý trọng những mất mát to lớn mà các thế hệ đi trước đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay. Để đáp lại tình cảm, sự hy sinh ấy chúng ta phải cố gắng học tập để góp phần xây dựng cuộc sống này ngày càng tươi đẹp.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 21

“Đôi vai mẹ gánh một đời huyền thoai.

Tình yêu thương rộng lớn đến khôn cùng..”

Câu ca dao trên là câu ca dao về tình mẫu tử thiêng liêng, đề cao ý nghĩa lớn lao cũng như tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ dành cho con. Thật vậy, tình cảm gia đình cũng là một trong những đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đề cập đến đề tài này, Nguyễn Quang Sáng là một trong những nhà văn tiêu biểu đã có một số tác phẩm đặc sắc như “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”,.. Trong đó, “Chiếc lược ngà” gây được ấn tượng hơn cả trong lòng người đọc.

Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm đó chính là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chính – nhân vật bé Thu – một cô bé cá tính đáng yêu và có tình yêu ba tha thiết, mãnh liệt, luôn trông ngóng ngày được gặp ba.

Bé Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh hoàn cảnh vô cùng khó khăn, sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương bao bọc của má nhưng lại thiếu đi bóng dáng của người cha. Bởi cha bé Thu – ông Sáu đi lính chiến đấu chống giặc bảo vệ Tổ quốc khi. Mà bé Thu còn ở trong bụng mẹ. Em chưa từng được gặp mặt ba mình mà chỉ biết mặt ba qua bức ảnh cũ của má và qua lời kể của bà và má.

Ngày anh Sáu trở về, khuôn mặt đã bị những vết thương làm cho biến dạng nhưng niềm khát khao của người cha dâng đầy trong lòng ông, lòng nôn nóng mong muốn được gặp con và ôm con vào lòng. Khi thấy cha không có khuôn mặt giống như trong tấm ảnh ngày cưới bé Thu đã nhất định không chịu thừa nhận.

Đang chơi ở ngoài sân, từ phía xa xa, bỗng có người gọi tên mình, lại xưng là “ba”, Thu “giật mình tròn xoe mắt”. Bởi ông Sáu luôn khao khát tình cảm cha con luôn muốn gặp lại con mình nhưng khi gặp lại bé Thu đã tìm cách lảng tránh ông. Điều đó hoàn toàn là suy nghĩ đơn thuần, ngây thơ của một cô bé 7, 8 tuổi. Không hề suy nghĩ quá hiểu, tìm hiểu rạch ròi mà chỉ bộc phát qua hành động khiến ta vừa cảm thấy sự ngây thơ, trong sáng vừa thấy được sự đáng thương của bé.

Bởi trước mắt bé bây giờ là hai người đàn ông hoàn toàn xa lạ. Từ khi mới lọt lòng, bé chưa hề biết mặt cha ngoài đời ra sao. Bỗng có người có một vết sẹo dài trên mặt, khác xa so với người cha trong bức ảnh mà em biết. lại xưng “ba”, gọi mình là ‘con” nên phản ứng của bé chạy vụt đi và thất thanh gọi má là điều rất dễ hiểu.

Không chỉ vậy, qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu, tác giả Nguyễn Quang Sáng vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé, vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. bên cạnh sự ngây thơ ta có thể dễ dàng cảm nhận được thì bé Thu còn để lại trong ta ấn tượng về cá tính và sự gai góc. Khi má yêu cầu “mời ba vô ăn cơm”, Thu gọi “trổng” “vô ăn cơm”.

Nồi cơm sôi, không tự chắt được con bé nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Nó tìm mọi cách chăt nước không cần nhờ vả. Đặc biệt, tính cách rắn rỏi, ngang bướng vô cùng trẻ con của Thu được thể hiện qua chi tiết khi ba Sáu gắp miếng trứng cá cho bé nhưng cô bé lại hất tay ông ra khiến miếng trứng cá rơi xuống đất. Bị ba đánh, tưởng đâu “con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi.

Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm và ngay lập tức bỏ đi chèo thuyền qua nhà bà ngoại.

Hành động của Thu tuy bột phát, ngây thơ nhưng lại vô cùng kiên cường. Sự ương ngạnh của bé Thu không đáng trách, vì em còn quá nhỏ để hiểu được những ác liệt mà chiến tranh gây ra. Em không tin đó là ba mình vì vết thẹo dài trên má khác với người ba chụp cùng với má trong bức ảnh. Tất cả thể hiện được nét tính cách độc đáo mà ít có đứa trẻ nào có thể có được ở bé Thu.

Tường chừng bé Thu sẽ cương quyết không chịu nhận cha, thế nhưng mọi việc lại hoàn toàn không giống như trong suy nghĩ của mọi người. Ẩn sâu trong sự ngang ngạnh, bướng bỉnh của bé Thu đó chính là một tâm hồn thiện lương, một trái tim khao khát yêu thương mãnh liệt từ cha bé.

Khi sang bên ngoại, được ngoại kể cho nghe về những khó khăn của ba, nguyên nhân của những vết sẹo cũng như sự anh dũng kiên cường của ba đã khiến bé Thu vô cùng cảm động. Bé khóc vì thương ba, vì cảm nhận được khó khăn mà ba gặp phải đồng thời cũng cảm thấy vô cùng hối hận.

Sự yêu ghét ngây thơ, tình thương và sự khao khát tình cảm gia đình mãnh liệt của một đứa trẻ khiến người đọc vô cùng cảm động.. Buổi sáng chia tay ấy, trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi, em không còn bướng bỉnh hay nhăn nhó nữa mà lại tỏ rõ sự buồn rầu.

Khi đối diện với ông Sáu, tình cảm cha con trong em trỗi dậy, niềm khao khát được gặp cha trong suốt ngần ấy năm được bộc lộ “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”.

Nỗi niềm khao khát được gặp cha thật đáng trân trọng. Đó là tiếng “ba” nó mong chờ bấy lâu nay, tiếng “ba” nó đã cố đè nén trong bao nhiêu năm, nay được vỡ tung ra từ đáy lòng, đó là một tiếng gọi thiêng liêng vô cùng.Con bé ôm chặt lấy ông như muốn cha minh không rời em đi.Tiếng gọi ấy khiến ông Sáu rơi lệ..

Tất cả những hành động ấy cho thấy Thu yêu thương ba vô cùng, một tình yêu mãnh liệt, chân thành, thắm thiết. Tình yêu đó được bộ lộ một cách cảm động qua hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

Tác phẩm có cốt truyện đơn giản xoay quanh hai tình huống cơ bản cùng với những chi tiết được sắp xếp hợp lí, tác giả đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đồng thời bộc lộ được cá tính nhân vật.

Sự lựa chọn người kể chuyện phù hợp,đặt điểm nhìn của truyện vào nhân vật bác Ba- người luôn bên cạnh hai cha con,và cũng là người chứng kiến toàn bộ câu chuyện, bởi vậy câu chuyện được thuật lại chân thực, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ kể chuyện có sự kết hợp hài hòa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, khiến cho người đọc không chỉ hấp dẫn bởi cốt truyện mà còn bị rung động vởi những suy nghĩ, trăn trở của người kể. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật hết sức đặc sắc, nắm bắt tâm lí trẻ con tài tình, chân thực.

Nhân vật bé Thu đã được tác giả đã khắc họa một cách sống động rõ nét, làm nổi bật lên tình yêu thương cha, sự khao khát gặp người cha thân yêu của mình trong suốt 8 năm trời . Đồng thời cũng là lời khẳng định, dù chiến tranh xảy ra, bom rơi đạn nổ cũng không thể làm vơi cạn được tình người, mà đặc biệt là tình cảm gia đình thiêng liêng.

Ngược lại chính trong hoàn cảnh này, tình cảm đó lại càng trở nên sâu sắc, tha thiết và cao đẹp hơn. Đồng thời tác phẩm lên án tội ác của chiến tranh, lên án những kẻ đã cướp đi nền hòa bình của một dân tộc để rồi dẫn đến sự chia lìa gia đình, cướp đi tình yêu thương mà đáng lẽ là điều hiển nhiên đối với những đứa trẻ.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 22

Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng. Chiến tranh, vùng trời của tan thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gởi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”…

Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.

“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truỵên ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.

“Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha, trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau.Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc.

Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc.

Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng?’’. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và **. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẳng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước gặp bố.

Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm xiết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…

Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đó con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy? Nó yêu ba nó lắm cơ mà? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.

Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?

Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ!

Dưòng như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hết cái trứng ra khỏi chén như một ngoài nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng.

Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng: Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên ** ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bước. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu. Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thương mà anh muốn trao gởi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh “Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên ** của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay xiết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc. Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một nguời lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạch, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày đạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yểu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu liôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về.

Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng loé lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý gí ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc “, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!

Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.

Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mã bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.

Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện vè hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc hoạ rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.

Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước. Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rẳng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!.

Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà – Mẫu 23

Đề tài tình cảm gia đình là một đề tài vô cùng quan trọng trong kháng chiến của Việt Nam. Nhiều tác giả đã khai thác đề tài này, những tác phẩm “Chiếc lược ngà” của tác giả Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” kể về nhân vật bé Thu một đứa trẻ dễ thương nhưng vô cùng cá tính, gai góc và có nội tâm vô cùng phức tạp.Tác giả đã vô cùng tinh tế khi mà đặt ra những tình huống vô cùng độc đáo.

Anh Sáu một người chiến sĩ cách mạng, đi bộ đội chiến đấu khi con gái mình vừa mới sinh xong. Ngày anh Sáu về phép thì con gái đã 7-8 tuổi. Bé Thu là người chỉ biết mặt ba qua những bức ảnh gia đình, nên trong tâm thức của bé, không có nhiều kỷ niệm với ba.

Rồi một ngày anh Sáu về phép cô bé khó mở lòng tiếp nhận một người cha bằng xương bằng thịt được.

Trong ba ngày phép ở nhà anh Sáu làm đủ mọi cách tiếp cận cô bé nhưng bé Thu không chịu gọi một tiếng ba. Cho tới khi anh phải lên đường đi là nhiệm vụ thì tiếng ba mới được thốt ra nghẹn ngào xúc động.

Nhân vật bé Thu là một cô bé mới chỉ tám tuổi nhưng có cá tính mạnh mẽ, gai góc và ương ngạnh. Tuy nhiên trong tâm của bé Thu thì vô cùng trong sáng, thể hiện tình yêu của mình với ba. Bởi em bé chỉ nhìn hình ba trong bức ảnh ba mẹ chụp với nhau trong ngày cưới. Nên khi nhìn thấy ông Sáu ngoài đời nó không thể nghĩ đó là ba mình.

Ông Sáu là một chiến sĩ dũng cảm, đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt gương mặt của ông không còn được như xưa mà có nhiều biến đổi theo thời gian, nên khi bé Thu nhìn ba ngoài đời không còn giống ba trong bức hình chụp ngày cưới ba mẹ nữa. Đó là chuyện bình thường.

Qua những tình tiết miêu tả của tác giả ta thấy bé Thu có cá tính và suy nghĩ vô cùng đáng yêu. Những suy nghĩ vừa rất trẻ con vừa người lớn. Nó thể hiện tình cảm của một người con dành cho ba của mình thể hiện tình cảm gia đình thắm thiết. Khi cả nhà bảo ra mời ba vào ăn cơm. Bé thu cứng đầu chỉ nói trống không “Vô ăn cơm”.

Dù ai có nói thì thì cô bé cũng không chịu gọi một tiếng ba, chỉ cho tới khi biết tin ông Sáng phải lên đường đi đánh trận, tiếng ba mới nức nở vỡ òa lên trong lồng ngực của cô bé. “Không cho ba đi. Ba phải ở nhà với con” những tiếng ba mong chờ từ lâu được cô bé thốt ra một cách trơn tru, từ đáy lòng của một đứa trẻ mong chờ có ba.

Rồi kèm theo hành động đó là việc Thu ôm chầm lấy ba của mình khóc nghẹn nức nở. Thu không muốn rời xa ba thêm nữa cô bé đã phải chờ đợi suốt tám năm mới được gặp ba, giờ này cô bé không muốn lại phải tiếp tục chờ đợi, không muốn xa cách.

Qua diễn biến tâm lý nhân vật ta thấy Thu là cô bé giàu tình cảm, dù bên ngoài cô bé là người gai góc, nhưng bên trong lại yếu đuối, trẻ con, và mong muốn có ba hơn bao giờ hết.

Tình cảm của Thi dành cho ba là tình cảm thiêng liêng của một đứa trẻ khát khao có ba như những đứa trẻ khác. Bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra cũng cần tình thương, sự chăm sóc của cả ba và mẹ, có như vậy chúng mới phát triển và trưởng thành đúng nghĩa.

Qua tác phẩm của mình tác giả Nguyễn Quang Sáng muốn tố cáo tội ác của chiến tranh, chính chiến tranh đã làm cho bao gia đình ly biệt, những đứa con không được gần cha, vợ không được gần chồng, biết bao gia đình sinh ly tử biệt bởi chiến tranh tàn ác.

****************

Trên đây là 23 bài văn mẫu Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện Chiếc lược ngà lớp 9 hay nhất. Hy vọng dựa vào đây, các em sẽ trau dồi vốn từ, củng cố kỹ năng viết để hoàn thành tốt bài phân tích của mình thêm hấp dẫn, sinh động hơn.

Đăng bởi:TH Văn Thủy

Chuyên mục:Giáo dục

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: Trường TH Văn Thủy (thptsoctrang.edu.vn)

nguvan

Cô giáo Lê Thị Thanh Loan tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện nay, Cô đang giảng dạy bộ môn Văn Học tại Đại học Sư phạm Hà Nội
Back to top button